Thứ Bảy, 21 tháng 11, 2015

ĐỘC GIẢ THỜI GIA ĐỊNH BÁO

Nguyễn Hồng Cúc
Tóm tắt: Gia Định Báo được các nhà nghiên cứu đánh giá cao vì là tờ báo sử dụng quốc ngữ Latinh đầu tiên tại Việt Nam. Thành phần độc giả của báo chí trong giai đoạn này cũng cần được tìm hiểu để có thể giải thích sự hấp dẫn của báo chí đã lan truyền từ giai cấp trí thức bậc cao lúc ban đầu đến các tầng lớp nhân dân sau này. Từ đó, báo chí đã gây nên một phong trào mọi người biết chữ là đọc báo, gánh vác vai trò lớn trong lịch sử là vừa phát triển quốc ngữ vừa nâng cao trình độ dân trí cho người Việt.
Thời điểm lịch sử khi Gia Định báo thành lập
            Từ khi Tự Đức lên ngôi (1848-1883), Việt Nam đã trải qua rất nhiều biến cố trên các mặt quân sự, chính trị, văn hóa, giáo dục, xã hội. Về quân sự, triều đình phải đối đầu với quân lực Pháp, sau đó năm 1862 và những năm kế tiếp đã phải nhường Nam kỳ (Gia Định, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) cho Pháp. Biến cố này đã gây sự xúc động vô cùng mãnh liệt trong lòng dân Việt. Tất cả dân Việt, nhất là giới sĩ phu đều căm phẩn người Pháp, coi bước chân của người Pháp là sự hỗn xược và là nỗi nhục nhã của một quốc gia có nguồn gốc và lịch sử kiêu hùng trong chống ngoại xâm.
Ở Nam Kỳ các sĩ phu tự tổ chức đứng lên khởi nghĩa chống Pháp ngay từ những ngày đầu đất nước bị xâm lược. Một số cuộc khởi nghĩa vũ trang chống Pháp quan trọng như:
        1.Trương Định: Năm 1859 Ông tổ chức nghĩa quân chống Pháp ở Gò Công, Tân An, Mỹ Tho, Sài Gòn, Đồng Tháp Mười, được nhân dân suy tôn là Bình Tây Đại Nguyên Soái. Ngày 20/8/1864 ông bị thương nặng, đã rút gươm tự sát tại Gò Công, bảo toàn khí tiết. Con ông là Trương Quyền rút về Châu Đốc cầm cự thêm được 6 năm.
        2.Võ Duy Dương cùng thời khởi nghĩa của trương Định, đánh Pháp trên cả một vùng rộng lớn từ Hà Tiên, Rạch Giá đến Đồng Tháp, gây cho đối phương nhiều tổn thất. Cuộc khởi nghĩa thất bại khi ông mất năm 1866.
        3.Trần Tấn Kiều (Đốc Binh Kiều) đem quân về hợp tác với Võ Duy Dương và giữ chức phó tướng. Ông trấn giữ đường vào Đồng Tháp Mười từ Cai Lậy, Cái Bè. Bị trúng đạn tại Gò Tháp ông mất năm 1866.
        4. Năm 1863 Nguyễn Hữu Huân khởi nghĩa ở Bình Cách (Tân An). Năm sau (1864), ông cùng Võ Duy Dương chiêu mộ nghĩa binh để khởi nghĩa lần thứ hai, vùng Thất Sơn, An Giang. Bị bắt giam tù 5 năm, ra tù lại khởi nghĩa lần 3. Đầu năm 1875, thất trận ở Bình Cách, ông lại bị bắt, khước từ Pháp chiêu hàng và bị hành quyết ngày 19/5/1875.
        5.Nguyễn Trung Trực nổi dậy ở Tân An chỉ huy nghĩa quân đốt cháy tàu Espérance của Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông (12/1861) và lập căn cứ chống Pháp vùng Rạch Giá, Hà Tiên, Phú Quốc. Năm 1886 Ông bị Pháp bắt và đưa đi hành hình.
        6. Cuộc khởi nghĩa của Quản Cơ Trần văn Thành tại Láng Linh vào năm 1867 và bị thất bại vào năm 1873. Báo Le Courrier de Saigon ra ngày 5 tháng 4 năm 1873 tường thuật: “Tại Hưng Trung, Trần Văn Thành vẫn bình tĩnh đứng sau chiến lũy làm bằng những tấm ván và những bao gạo chồng lên nhau, để đốc thúc nghĩa binh chiến đấu. Nghĩa quân trong các chiến lũy thổi tù và, đánh trống và reo hò để tăng uy thế. Bên cạnh ông còn có con trai ông hỗ trợ cho ông bắn"...  
            Như thế các phong trào kháng Pháp tại Nam Kỳ đã bị tan rã vào những năm Pháp áp dụng chính sách dài hạn để làm thay đổi hoàn toàn xã hội Việt Nam trên phương diện văn hóa và giáo dục.
Chữ Quốc Ngữ giai đoạn này
            Dựa vào các tài liệu nghiên cứu về chữ quốc ngữ, một loại chữ đã xuất hiện tại Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ 17 do các giáo sĩ người Pháp sử dụng, dùng tiếng Latinh để phiên âm tiếng Việt. Trong tiến trình của chữ quốc ngữ từ giai đoạn không dấu đến hoàn thiện có năm dấu, khoảng năm 1645 đến 1838, từ Alexandre de Rhodes trong Tự điển Việt-Bồ-La đến Taberd với quyển Dictionarium Annammiticum Latinum, tuy nhiên, chữ quốc ngữ không được truyền bá nhiều trong dân chúng, mà còn bị ngăn cấm. Đến khi người Pháp sang Việt Nam chiếm được Nam kỳ và bắt đầu đặt nền cai trị vào năm 1862, chữ quốc ngữ lại ở một tình trạng trì trệ là loại chữ này không được dùng trong các lãnh vực nào khác ngoài việc truyền giáo của các giáo sĩ Tây phương. Nên khi người Pháp dùng báo chí trong việc thông tin và dùng chữ quốc ngữ trong Gia định báo đã gây một hiện tượng đáng ngạc nhiên với dân chúng thời bấy giờ. Chữ quốc ngữ đã vượt ra ngoài phạm vi quen thuộc của các giáo sĩ, để được phổ biến rộng rãi từ thành thị đến những thôn ấp xa xôi. Đây cũng là thời gian đánh dấu cho sự trở mình chữ quốc ngữ bắt đầu phát triển. Gia định báo được xem là tờ báo quốc ngữ đầu tiên, đồng thời mang lại cho nền văn học nước nhà một nền gió mới làm thay đổi những nề nếp cũ có quá nhiều ảnh hưởng Trung Hoa, cũng như tạo cho người dân Việt Nam một cách sống mới, hiểu biết, tham gia vào chính sự.


Ai đọc được chữ quốc ngữ giai đoạn này
Sau khi Pháp chiếm trọn vẹn 6 tỉnh Nam Kỳ, bắt đầu thực hiện các chính sách cai trị Nam Kỳ trong đó có chính sách về giáo dục, người Pháp thành lập ngay một trường dạy tiếng Pháp ở Sài Gòn để đào tạo người bản xứ làm phiên dịch. Từ đây, nền giáo dục Nam Kỳ được đặt trong sự cai quản của các Thống đốc quân sự Pháp. Bên cạnh nền giáo dục mới đang manh nha, Nho học vẫn duy trì trong tình hình ngày càng suy tàn. Đây là thời kì song hành hai nền giáo dục: cựu học (Nho học) và tân học (Tây học).
            Lúc này, hệ thống trường học công lập tại Nam Kỳ được đặt dưới quyền chỉ đạo của Nha Giám đốc Nội vụ thuộc quyền Thống đốc Nam Kỳ. Sau đó, một số cơ quan giáo dục được thành lập để quản trị, chỉ đạo và điều hành như:
- Hội đồng tư vấn học chính (Conseil Consultatif de l’Instruction Publique) được thành lập năm 1868 để giúp ý kiến cho chính quyền về các vấn đề giáo dục.
- Sở Học chính công (Service de l’Instruction Publique) được thành lập năm 1879, đưa ra chương trình giáo dục Pháp – Việt nhằm loại bỏ dần nền Hán học ở Nam Kỳ.
- Nha học chính Đông Dương (Direction de l'Instruction Publique de l'Indochine) được thành lập vào năm 1905 để nghiên cứu, sửa đổi chương trình giáo dục, do một Giám đốc người Pháp đứng đầu, chỉ đạo trực tiếp 5 Sở Giáo dục cho người bản xứ (Service de L'Enseignement Local) của Liên bang Đông Dương. Tại Nam Kỳ, Sở Giáo dục do một Chánh sở (Chef de Service) người Pháp đứng đầu.
- Hội đồng Hoàn thiện nền giáo dục bản xứ (Conseil de Perfectionnement de l’Enseignement indigène) được thành lập ngày 3-3-1906 để nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến việc thiết lập hoặc cải tổ lại nền giáo dục đối với người Việt Nam, đưa môn tiếng Pháp và khoa học sơ đẳng vào chương trình học, duyệt các sách giáo khoa, từ điển. Tháng 4-1913 Hội đồng này đã quyết định bãi bỏ hẳn việc học chữ Hán trong các trường Pháp – Việt ở hệ cấp I và cấp bổ túc.
            Từ đây, chính quyền Nam Kỳ với các Thống đốc dân sự đã thực hiện liên tục và mạnh mẽ việc thiết lập một hệ thống giáo dục 3 cấp trên toàn Nam Kỳ theo mô hình trường học của Pháp.
            Như thế kể từ năm 1865, những trẻ em Nam kỳ và sau đó ở khắp Việt Nam, nếu muốn đi học đều phải học chương trình Pháp-Việt. Điều này đã hình thành nên những người trí thức mới theo lối Tây học, đó cũng là những độc giả đầu tiên của Gia Định báo và các báo tiếng Việt sau này

Các báo tiếng Pháp và tiếng Việt cuối thế kỷ XIX
            Hậu bán thế kỷ XIX, trong hoàn cảnh quốc phá gia vong, báo chí Việt Nam ra đời và gắn chặt với những diễn biến của lịch sử nước nhà.
            Năm 1859, Pháp chiếm thành Gia Định. Hai năm sau, ngày 29-9-1861, tờ Le Bulletin Officiel de l’Expédition de la Cochinchine (Nam Kỳ viễn chinh công báo) được xem là phương tiện để truyền đạt những luật lệ của “mẫu quốc” đến người dân Sài Gòn – Gia Định. Năm1862, Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, và cũng trong năm này, tờ báo thứ hai, Le Bulletin des Communes (Làng xã công báo), được ấn hành. Tờ báo này được in bằng tiếng Hán để có thể phổ biến trong giới quan lại người Việt vốn chưa thông thạo tiếng Pháp. Năm 1964, tờ báo tiếng Pháp Le Courrier de Saigon (Thư tín Sài Gòn) được xuất bản.
            Nhưng tiếng Pháp vẫn còn là một cách biệt lớn giữa chính quyền Pháp và dân chúng, vì vậy mà tờ báo tiếng Việt ra đời. Nó vừa là công cụ để chính quyền phổ biến thông tin, vừa là tài liệu để các viên thông ngôn, học trò trong các trường dùng để thực tập chữ quốc ngữ. Chính quyền Pháp đã cho ra báo in bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam, tờ Gia Định báo ra đời giữa hai lần Pháp xâm chiếm ba tỉnh miền Đông (1962) và ba tỉnh miền Tây (1867). Gia Định báo được tài trợ bởi Thống Súy Phủ nên được phát miễn phí cho các làng, xã và trường học. Nó đã được sự ái mộ của dân chúng, rất nhiều học trò chỉ mong đợi cho tới kỳ phát báo để lấy báo đem về nhà đọc, có khi họ còn đọc to lên để cho người không biết chữ cùng nghe.
            Đến năm 1897, Gia Định báo chấm dứt hoạt động sau 32 năm(?). Tuy nhiên, trong buổi Hội thảo khoa học kỷ niệm 140 năm ngày thành lập Gia Định Báo - tờ báo Việt ngữ đầu tiên của Việt Nam nhà nghiên cứu Lê Nguyễn lại cho rằng Gia Định báo tồn tại đến ngày 31.12.1909 (tức là 44 năm), chỉ chính thức đình bản vào 01.01.1910 (?)[1].
            Sau Gia Định báo, nhà cầm quyền Pháp cũng cho phép phát hành một số báo tư nhân khác ở Nam Kỳ thuộc địa như Phan Yên báo (1898-1899) do Diệp văn Cương biên tập; Nhựt trình Nam kỳ (1883) (Le Journal de Cochinchine),Sàigòn, tuần báo ra ngày thứ bảy (bằng tiếng Pháp và tiếng Việt); Thông loại Khoá trình(1888-1889),Miscellanées ou lectures instructives pour les élèves des écoles primaires, commulales et cantonales par P.J.B. Trương vĩnh Ký; Đại nam Đồng văn Nhật báo (1892); Nông Cổ Mín Đàm(1901-1924),Causeries sur l’agriculture et le commerce, xuất bản tại Sàigòn, chủ nhiệm là Canavaggio, chủ bút là Lương khắc Ninh tự Dũ-Thúc; Đại nam Đồng văn Nhật báo, Đông cổ Tùng báo (1893); Đại việt Tân báo(1905), Nhật báo Tỉnh (1905) Le Moniteur des Provinces- Sàigòn, viết bằng tiếngViệt; Lục tỉnh Tân văn (1907-1943)…
            Như thế người Pháp đã nghĩ đến sự quan trọng của báo chí trong việc tuyên truyền và thực hiện những ý đố chính trị ngay từ lúc họ còn “chân ướt chân ráo” đến Nam kỳ (điều này đã thấy rõ qua 3 tờ báo đầu tiên). Tuy nhiên, người Pháp đã không thấy với những nội dung mới mẻ của báo chí cũng đã góp phần đưa những tri thức, tư tưởng mới vào xã hội Việt Nam thời bấy giờ, đồng thời tạo ra một lực lượng trí thức mới ở nước ta. Do đó, phải nói không ngoa rằng người dân Nam kỳ, người dân Việt Nam lúc nào cũng cầu tiến, ham học hỏi, không bao giờ từ chối các thông tin của báo chí, những ưu việt của nền văn minh Phương Tây vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
            Nhưng, thực tế Gia Định báo lúc đó quá đắt so với sự thu nhập của người dân.
Giá tiền của Gia định báo
            Trong khảo luận “Tìm hiểu Gia định báo” của Nguyễn Hải Lộc đã ghi:
            Từ số 5/1865 đến số đề ngày 2/6/1900 tất cả 7 lần thay đổi giá tiền.
            -Số 5, năm thứ nhất, ngày 15/8/1965 dưới manchette có ghi: “tờ báo này mỗi tháng Tây cứ ngày rằm in ra một lần, ai muốn mua cả năm phải trả 6 góc tư”
            -Giá biểu thứ hai ghi rõ giá mua báo dài hạn bằng đồng quan Pháp: trót năm thì giá 20 france, mua 6 tháng thì 10 france, mua 3 tháng thì 5 france (số thứ 1, năm thứ 18 ngày 11/1/1882) Giá biểu này từ số 13 năm thứ 16 ngày 15/6/1880 đã được áp dụng.
          -Đến số 21 năm thứ 18 ngày 21/6/1882 , giá báo được tính bằng đồng bạc Việt Nam: mua trót năm thì giá 4 đồng bạc, mua 6 tháng thì giá 2 đồng bạc, mua 3 tháng thì giá 1 đồng bạc.
          -Năm 1891 giá mua trọn năm lên 5 đồng, 6 tháng thì 2 đồng rưởi, 3 tháng thì 1 đồng 1 quan 2 tiền rưởi (số 1 năm thứ 27 ngày 6/2/1891).
           -Từ số 33 năm thứ 33 ngày 17/8/1897 giá bán 1 năm là 6 đồng 67, 6 tháng là 4 đồng, 3 tháng là 2 đồng và mỗi số báo là 0,17 đ.
          - Đến số 39 năm thứ 33 ngày 17/8/1897, Gia định báo có giá 1 năm 6, 67 đồng, 6 tháng 3,33 đồng, 3 tháng 1,67 đ, mỗi số 0,17 đ.
          - Số báo đề ngày 2/6/1900 là 8 đồng một năm [2].
            Một đặc điểm khác là giá tiền của mỗi số Gia định báo vẫn giữ nguyên, không lên xuống theo số trang. Thí dụ với số tiền 0,17 đồng, người đọc có thể mua một số báo 4 trang, nhưng lần khác  với số tiền này đọc giả mua được số báo 16 trang.
            Sau đây là đoạn trích trong số 1 năm thứ 27 ngày 6/1/1891 cho biết giá biểu và nơi mua bán: GIÁ MUA NHỰT TRÌNH, Ai muốn mua thì tới dinh Quan Hiệp Lý Nam kỳ, phòng thông ngôn cho người ta biên tên, mua trót năm thì giá 5 đồng bạc, mua 6 tháng thì 2 đồng rưởi, mà mua 3 tháng thì 1 đồng 1 quan 3 tiền rưởi.[3]
            Như thế giá bán một tờ Gia định báo so với giá thời bấy giờ là quá cao. Theo quảng cáo trên Gia định báo số ra ngày 12 janvier 1881:“Có một khoảnh đất thổ cư tại Saigon ở tại đường Espagne góc đường Mac Mahon, giá bán mỗi thước tây là một quan năm. Như ai muốn mua thì cứ hỏi ông thông phán Bollon ở Saigon mà mua” (Espagne - Mac Mahon là ngã tư Lê Thánh Tôn - Nam Kỳ Khởi Nghĩa ngày nay). Như thế mua bốn tờ báo bằng mua một mét vuông đất ở vùng “đất bạch kim” trong hiện tại.
Độc giả thời Gia định báo
            Mặc dù không đưa ra được tài liệu cụ thể, ta có thể phỏng đoán rằng đa số độc giả của Gia định báo và các báo tiếng Việt cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là tầng lớp trí thức có cộng tác với Pháp hoặc không cộng tác với Pháp nhưng được đào tạo theo nền giáo dục phương Tây.Tầng lớp trí thức Tây học này càng ngày càng nhiều, càng lớn mạnh, tăng theo số trường, số lớp hàng năm mà người Pháp quyết tâm thiết lập nền giáo dục thuộc địa.
            Sự thất bại của các cuộc khởi nghĩa ở Nam kỳ nói riêng và Việt Nam nói chung đã làm thức tỉnh các giới sĩ phu Hán học, xuất hiện một xu hướng cải cách. Việc tiếp nhận cái mới của những sĩ phu có tinh thần cải cách, họ muốn tiếp xúc trực tiếp với văn hóa và văn minh kỹ thuật hiện đại của phương Tây, họ không bảo thủ để từ bỏ việc học chữ quốc ngữ, đó cũng là một trong những độc giả của Gia định báo. Đọc báo để biết thời sự, tin tức mà đối phó với những bức nhiểu của các quan tham trong làng xã.
            Một số người thuộc giai cấp tư sản cũng là những độc giả của báo chí thời bấy giờ. Trong những trang quảng cáo,lời rao của Gia Định báo có những bài đề nghị đăng quảng cáo, lời rao cho các nhà buôn, nơi sản xuất của những người Việt Nam. Ví dụ như: Trạng-sư TRẦN-NGUYÊN-HANH cho nhơn dân hay, tôi đã khai toà làm thầy-kiện ở tại NHÀ KHÁNH HỔ (công -xi a-phiến củ) sẵn lòng mà lo tất tính những việc ai nấy xin giúp, hoặc kiện cáo, hoặc chỉ phép, hoặc làm đơn tuỳ theo mỗi việc.Có ở nhà từ chiều đứng bóng cho tới giờ thứ sáu”(trích Gia Định Báo số 31 đến 37/1882)
            Hoặc lời rao: Chợ Lớn, ngày mồng 6 septembere 1882. Lời xin ai nấy đặng hay, thằng con tôi là kỳ Phải, học hành thì ít, hoang dâm cờ bạc thì nhiều, như có vay muợn bạc tiền của ai, thì đòi lấy nó, chớ vợ chồng tôi không biết tới, xin ai nấy thương vợ chồng tôi già cả, thì đừng cho nó vay mượn sự gì hết, thì tôi lấy làm cám-ơn. HÀ-MINH-CHÂU ký (tríchGia Định Báo số 32/1882)
            Dù không phải là một lực lượng lớn thời bấy giờ, nhưng giới kỹ nghệ gia, thầu khoán, kỹ sư và đại điền chủ vẫn là một giai cấp tư sản. Giai cấp tư sản phát triển đặc biệt ở Nam kỳ có mức sống khá cao so với mức sống công nhân và nông dân, nên mới có thể đăng quảng cáo trên báo và do đó có thể là số độc giả trung thành hàng năm của báo.
            Tầng lớp trí thức tập trung ở thành thị, gồm sinh viên, giáo sư, luật sư, y sĩ, đã chịu ảnh hưởng tư tưởng tiến bộ của nước Pháp. Họ chiếm đa số độc giả thuở ấy và mãi đến ngày nay.
            Ngoài ra, Gia định báo cũng là nơi đào tạo các ký giả đầu tiên của báo chí Việt Nam. Hầu hết những người viết, đưa tin cho Gia định báo (hay những độc giả trung thành với nó), là những người có tên trên báo dưới danh nghĩa "người viết báo". Trong nhiều số báo ở mục lời rao có hướng dẫn cụ thể về việc các cộng tác viên muốn viết gửi tin bài cho báo phải viết phần nội dung ghi rõ ngày tháng, nơi xảy ra sự kiện, tường trình đầu cuối như thế nào và ý kiến…Điều này chứng tỏ Gia định báo không chỉ có các độc giả đọc tin tức mà còn có các độc giả muốn làm báo nữa.
            Trong bức thư của thống đốc G.Roze gửi cho Bộ trưởng bộ thuộc địa Pháp, đề ngày 29/5/1865 có đoạn viết: “những viên thanh tra đặc trách về những công việc của người dân bản xứ đã cho tôi biết rằng tờ Gia định báo đã được dân chúng ủng hộ một cách nhiệt liệt và ở nhiều địa phương những em bé biết đọc chữ quốc ngữ đã đọc báo cho cha mẹ chúng nghe…” [4]
            Dù báo được phân phối bằng cách gửi trực tiếp từ trung ương đến địa phương và chỉ giới hạn trong guồng máy chính quyền và một số tầng lớp nhà giàu và trí thức, nhưng có lẽ độc giả biết chữ quốc ngữ cũng tìm đến các cơ quan công quyền để đọc ké cho biết. Ngoài phần chính là mục công vụ, tạp vụ, Gia Định báo còn có các mục thứ vụ, quảng cáo. Nội dung các mục này là những lời cáo dưới dạng thông báo, nhắn tin, bố cáo, cáo phó ... và những lời rao vặt như trên các báo Pháp thời đó. Phần công vụ là phần chuyên về chính trị, pháp lý và công quyền. Phần này có nhiệm vụ đăng tải các sắc lệnh, nghị định, thông tư, đạo lệnh, chỉ dụ.... của chính quyền Pháp và triều đình Nguyễn; những tin về cấp bằng, thuyên chuyển công tác, thăng chức, hạ chức, bãi chức, biên bản các cuộc họp của Hội đồng Quản hạt, hoạt động quân sự. Phần tạp vụ đề cập nhiều đến kinh tế, tôn giáo, văn hoá, xã hội... Về sau phần tạp vụ mở rộng thêm, và nhanh chóng trở thành phần có giá trị và sức cuốn hút nhất của Gia Định báo. Đây là phần khảo cứu, nghị luận về văn hóa, đạo đức, phong tục, lễ nghi, thơ văn, tư tưởng, lịch sử .v.v... Truyền bá khoa học thực nghiệm - từ y tế, vệ sinh, kỹ thuật đến vật lý, hóa học, tự nhiên học; từ tư tưởng, triết học, đạo đức, lịch sử đến tôn giáo, thần học, chiêm tinh; những sáng tác, sưu tầm, khảo cứu, dịch thuật từ tiếng Hán, Pháp, Anh; những chuyên luận, bình giảng thơ văn cổ, tìm hiểu chữ Nôm, truyền thuyết, tục ngữ, ca dao, cổ tích, ngụ ngôn...
            Nếu nội dung như thế thì đọc giả của Gia Định báo phải nhằm vào đa số độc giả quần chúng chớ không phải chỉ là tầng lớp quan lại, trí thức theo Pháp (vì giới này chỉ cần đọc báo Pháp là có các thông tin đó)
            Gia Định báo được xem như là một sự cần thiết để thỏa mãn nhu cầu hiểu biết của độc giả, nên được dân chúng đón nhận một cách đặc biệt là chuyện tự nhiên. Hơn nữa tờ báo càng gần gủi với dân chúng hơn là nhờ ở chữ quốc ngữ, là một loại chữ dễ học, vì viết theo âm vận của tiếng nói, vã lại người Pháp mở trường dạy ở tận làng xã và cưởng bách việc học, nên mọi người đều có cơ hội hiểu biết thứ chữ mới này.
            Riêng về giá trị của Gia Định báo, Vũ Ngọc Phan đã viết: "Gia Định Báo đã mở đường cho báo chí ở trong miền Nam nói riêng và trên toàn quốc nói chung. Vì so với miền Bắc thì miền Nam được biết báo chí bằng quốc ngữ sớm hơn 40 năm. Ở miền Bắc, năm 1892 chỉ mới có tờ Đại nam Đồng văn Nhật báo viết bằng chữ Hán và phải chờ đến năm 1905 mới có tờ báo đầu tiên bằng quốc ngữ bên cạnh những bài bằng chữ Hán là tờ Đại việt Tân báo"[5].
            Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu đánh giá cao Gia Định Báo vì nó "giúp ta hiểu được khúc quanh lịch sử của đất nước ta: từ phong kiến Á Đông chuyển sang thuộc địa nửa phong kiến, bắt đầu sử dụng quốc ngữ Latinh đồng thời học tập theo khoa học thực nghiệm tây phương"[6].
            Trong khi Pháp ngữ là ngôn ngữ chính thức của chính quyền lúc bấy giờ, thì quốc ngữ lại phát triển và trở thành ngôn ngữ của xã hội, của người dân. Nhờ các sách dịch và các báo quốc ngữ, quốc ngữ trở thành ngôn ngữ chính trong xã hội và được đại đa số nhân dân sử dụng. Các trí thức yêu nước cũng tích cực phổ biến quốc ngữ như một phương tiện vận động canh tân đất nước, mở mang dân trí và chống lại sự đô hộ của người Pháp.
            Quốc ngữ trở thành khí cụ tinh thần của người dân bị trị, nền văn hóa dân gian trước kia chỉ truyền khẩu ngày nay người dân đã có chữ viết. Vào những thập niên cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, tại ba miền Việt Nam, người trí thức và bình dân đã có chung một chữ viết, thêm vào đó đã có một thế hệ trẻ sinh ra vào ở các thành thị mới phát triển theo nền văn minh Tây phương. Gia định báo, ngoài việc tạo nên một luồng văn học quốc ngữ mới, là gạch nối của các tầng lớp nhân dân, cũng đã có công lớn là tạo nên những độc giả biết yêu báo chí, biết tầm quan trọng của thông tin. Từ một ít trí thức lúc ban đầu, phát triển trong khắp hang cùng ngõ hẻm, người người đều đọc báo, coi đọc báo là một nếp văn minh, một ngày không biết tin tức thời sự là trở nên lạc hậu, lỗi thời trong xã hội. Điều này đã tạo nguồn lực và điều kiện xuất hiện các cuộc vận động văn hóa chính trị mới vừa chống Pháp giành độc lập, thích hợp hơn và hữu hiệu hơn, vừa mở đường cho việc tìm tòi một hướng đi mới cho dân tộc trong thời đại mới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Nguyễn Hải Lộc (1972), Tìm hiểu Gia định báo, tiểu luận ban cử nhân Báo chí, viện đại học Vạn Hạnh, S.
2.Kiến thức ngày nay số 117 ngày 20/06/1995
3.Vũ Ngọc Phan (1942), Nhà văn hiện đại, Nxb Tân Dân, Hà Nội (tái bản năm 1994, Nxb Văn học, Hà Nội)
4.Tài liệu Hội thảo khoa học kỷ niệm 140 năm ngày thành lập Gia Định Báo - tờ báo Việt ngữ đầu tiên của Việt Nam, ĐH KHXh &NV TP.HCM, ngày 23/12/2005
5.Trần Thuận (2014),Thái độ sĩ phu Việt Nam thời tiếp xúc Đông Tây (từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX), nxb Tổng hợp, TPHCM.
6.Huỳnh văn Tòng (1970), Lịch sử báo chí Việt Nam, đại học Vạn Hạnh.
           



[1] Đề cập đến năm đình bản của Gia Định Báo, Lê Nguyễn cho rằng: “Trên thực tế, vào ngày 21/09/1909, Thống đốc nam Kỳ Gourbeil mới ban hành nghị định ấn định là tờ Gia Định Báo đình bản hẳn kể từ ngày 01/01/1910 ( Tập san hành chánh Nam Kỳ năm 1909-trang 3464)”. (Kiến thức ngày nay số 117 ngày 20/06/1995). Số báo sau cùng nhất do Huỳnh Văn Tòng lưu giữ, trên manchette báo in: “Năm thứ 43 - Số 40,41,42. Ngày thứ hai 11,18 và 25 Octobre 1909”. Căn cứ trên tờ báo này thì có thể thấy Gia Định Báo tồn tại 43 năm. Tuy nhiên, đây có phải là tờ báo cuối cùng không thì vẫn còn là một nghi vấn. Vấn đề khác được đặt ra là : tờ báo phát hành năm 1909, nếu đúng theo cách đánh thông thường phải là năm thứ 45, nhưng ở đây lại in năm thứ 43.
[2] Huỳnh văn Tòng (1970), Lịch sử báo chí Việt Nam, đại học Vạn Hạnh.
[3] Nguyễn Hải Lộc (1972), Tìm hiểu Gia định báo, tiểu luận ban cử nhân Báo chí, viện đại học Vạn Hạnh, S.
[4]Huỳnh văn Tòng (1970), sđd
[5] Vũ Ngọc Phan (1942), Nhà văn hiện đại, Nxb Tân Dân, Hà Nội (tái bản năm 1994, Nxb Văn học, Hà Nội)
[6]Tài liệu Hội thảo khoa học kỷ niệm 140 năm ngày thành lập Gia Định Báo - tờ báo Việt ngữ đầu tiên của Việt Nam, ĐH KHXh &NV TP.HCM, ngày 23/12/2005.

Thứ Hai, 22 tháng 9, 2014

QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TẠI MIỀN NAM VIỆT NAM QUA TÀI LIỆU LƯU TRỮ CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA

Nguyễn Thị Hồng Cúc

Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II hiện đang bảo quản các nguồn tài liệu quan trọng của chế độ Việt Nam Cộng hòa. Nguồn tài liệu này được xếp trong các Phông Lưu trữ, như: Phông Phủ Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa (PTTĐICH); Phông Phủ Thủ tướng Quốc gia Việt Nam (PTTQGVN); Phông Phủ Thủ tướng VNCH (PTTVNCH); Phông Hội đồng Quân nhân Cách mạng (HĐQNCM); Phông Cơ quan Viện trợ quốc tế Hoa Kỳ (CQVTQTHK), Phông Phủ Tổng thống Đệ nhị Cộng hòa (PTTĐIICH). Bài viết sau đây được lấy trong những tài liệu của các Phông Lưu trữ này. Hy vọng rằng các nhà nghiên cứu khi cần tìm hiểu các hoạt động của miền Nam Việt Nam (giai đoạn 1954 - 1975) sẽ khai thác các tài liệu lịch sử quan trọng tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II cũng như các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia khác của Việt Nam.

I. Các đại học công và tư tại miền Nam VN giai đoạn 1954 - 1975
Giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam chỉ bắt đầu từ cuối năm 1946 như một chi nhánh của Đại học Đông Dương Hà Nội. Nền đại học này đã trải qua một giai đoạn chuyển tiếp trong những năm đầu của thập niên 50, và sau đó dần dần phát triển, gồm có  Ðại học Quốc gia, Ðại học Cộng đồng Ðịa phương, và 16 trường đại học tư lớn nhỏ [1].
Ðại học cấp quốc gia gồm có: 
- Viện Đại học Sài Gòn có 9 đại học thành viên là Đại học Y khoa, Đại học Nha khoa, Đại học Dược khoa, Đại học Sư phạm, Đại học Khoa học: gồm có 15 ban, Đại học Văn khoa có các ban Việt văn, Việt Hán, Triết học, Sử Địa, Nhân chủng học, Pháp văn, Anh văn, Đại học Luật, Đại học Kiến Trúc [2], Hải học viện Nha Trang.
- Viện đại học Huế gồm có 5 phân khoa là đại học Khoa học, đại  học Luật khoa, đại học Văn khoa, đại học Sư phạm và đại học Y khoa.
- Viện Đại học Cần Thơ gồm 5 phân khoa: Văn khoa, Luật khoa và Khoa học xã hội, Sư phạm, Khoa học và Canh nông.
- Học viện Quốc gia Hành chánh trực thuộc Phủ Thủ tướng.
- Trường Võ bị Quốc gia Ðà Lạt trực thuộc Bộ Quốc phòng.
            - Viện đại học Bách khoa Thủ Đức gồm có 7 đại học thành viên là Đại học Kỹ thuật (tiền thân là Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ), Đại học Nông nghiệp (tiền thân là Trung tâm Quốc gia Nông – Lâm – Súc), Đại học Giáo dục (tiền thân là Trung tâm Huấn luyện Sư phạm Kỹ thuật), Đại học Kinh Thương, đại học Khoa học Cơ bản,  đại học Thiết kế Thị Thôn, đại học Cao cấp (tiếng Anh: College of Graduate Studies), điều phối các chương trình đào tạo bậc cao học và tiến sĩ [3].
            Ðại học Cộng đồng địa phương như Viện Đại học Cộng đồng Quảng Ðà [4] , Đại học Cộng đồng Nha Trang hay Viện Đại học Cộng đồng Duyên hải, Viện Đại học Cộng đồng Tiền Giang Mỹ Tho[5] Ðại học Cộng đồng Long Hồ-Vĩnh Long, Ðại học Cộng đồng Ban Mê Thuột.
            Những đại học tư như Viện Đại học Đà Lạt [6], Viện Đại học Vạn Hạnh [7], Viện Đại học Cao Đài, Viện Đại học Minh Đức [8], Viện Đại học Hòa Hảo [9], Đại học Dân Trí [10], Viện đại học Bảo Lộc tại Saigon [11], Viện Đại học Phương Nam [12], Học viện Cộng đồng Régina Pacis tại Saigon [13], Viện Đại học Cửu Long [14], Học viện Tri Hành [15], Viện Đại học Canh Tân [16],Viện Đại học Kỹ thuật Đồng Nai tại tỉnh Bình Dương [17], Đại học Sư phạm Thành Nhân, Học viện Lasan, Học viện Minh Trí [18].
II. Đào tạo đại học tại miền Nam Việt Nam qua tài liệu lưu trữ của Viêt Nam Cộng Hòa (VNCH)
Việc chuyển giao quyền quản trị đại học từ người Pháp sang người Việt đánh dấu một khúc quanh quan trọng trên đường phát triển đại học Việt Nam. Từ đó đại học được thay đổi để mang đặc tính Việt Nam. Nhằm đạt mục đích này các nhà giáo dục miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ phải đối diện với hai vấn đề cấp bách là: chuyển từ Pháp ngữ sang Việt ngữ hệ thống giáo dục Việt Nam và thành lập một chương trình học có tính chất Việt Nam.
Vì ảnh hưởng văn hoá Pháp còn quá nặng, việc chuyển ngữ ở đại học tại miền Nam Việt Nam tiến hành chậm và gặp khó khăn. “Việt ngữ được dùng lần đầu tiên từ năm 1951 tại các lớp đệ thất (lớp 6 Trung học cơ sở hiện nay). Năm 1952 đại học Văn Khoa đã có ý định dùng Việt ngữ làm chuyển ngữ. Năm 1956 chương trình học Việt ngữ đầu tiên được thực hiện tại Đại học Luật khoa. Năm 1957, Việt ngữ được dùng làm chuyển ngữ tại Viện Đại học Huế. Tuy nhiên, tại Sài Gòn, Pháp ngữ vẫn còn được các giáo sư đại học dùng để giảng dạy cho đến năm 1966” [19].
Trong văn bản của Hội đồng Văn hóa Giáo dục [20] có ghi “Triết lý giáo dục của miền nam VN giai đoạn 1954 - 1975 là Nhân Bản, Dân tộc, Khai phóng.
- Nhân bản: lấy con người làm cứu cánh, tôn trọng những giá trị thiêng liêng của con người, chủ trương sự phát triển quân bình và toàn diện của mỗi người và mọi người.
- Dân tộc: biểu hiện và phát huy tinh thần dân tộc, các truyền thồng tốt đẹp và các giá trị đặc thù của dân tộc nhằm bảo đảm sự đoàn kết trường tồn của dân tộc, cũng như sự phát triển điều hòa và toàn diện của quốc gia.
- Khai phóng: luôn hướng tới sự tiến bộ, tôn trọng tinh thần khoa học, rộng rãi đón nhận những tinh hoa văn hóa thế giới, tích cực đóng góp vào sự cảm thông và hợp tác của các dân tộc cũng như sự thăng tiến nhân loại trong hòa bình và tự do”.
Cũng trong văn bản này, xác định chính sách giáo dục là đại chúng hóa giáo dục và thực dụng hóa giáo dục, đề nghị một ngân khoản giáo dục tối thiểu là 20% ngân sách quốc gia.
Trong khi đó, bài phỏng vấn của Việt Tấn Xã vào ngày 28/8/1974 [21] với Viện trưởng viện đại học Bách Khoa Thủ Đức cho rằng: “Tiền sinh viên đóng cho trường đều đi vào ngân khố. Chúng tôi không thể tự tiện lấy ra rồi tự tiện tổ chức này nọ. Hiện chỉ có 6% tổng số ngân sách quốc gia dành cho giáo dục nên chúng tôi không thể nào phát triển mau lẹ như ý muốn”.
Như thế, về tài chánh và phương tiện giáo dục là ngân sách chi cho giáo dục quá ít (6% ngân sách quốc gia) và cơ sở vật chất trường đại học quá nhỏ, thiếu phương tiện giảng dạy cần thiết của một nền giáo dục hiện đại nên ảnh hưởng rất lớn đối với chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trong thời gian này.
Các Viện đại học miền Nam Việt Nam trước 1975 hoạt động trong qui định của hiến pháp năm 1956 và hiến pháp ngày 1/04/1967. Hai hiến pháp của chánh quyền miền Nam Việt Nam đều xác định: công nhận quyền tự do giáo dục, giáo dục cơ bản cưỡng bách và miễn phí, giáo dục Đại học được tự trị, phụ huynh có quyền chọn trường cho con em, các đoàn thể và tư nhân có quyền mở trường theo điều kiện luật định.
Theo phiếu trình v/v quy chế Đại học, ngày 18-12-1968 [22] :
 “Quy chế được Viện đại học Sài Gòn áp dụng từ 1954 đến 1968 là quy chế của Viện đại học Hà Nội cũ. Quy chế này được soạn thảo theo các văn bản pháp lý: Hiệp định Pháp Việt ngày 8-3-1949, thoả ước văn hoá ngày 30-12-1949, thoả ước ngày 30-05-1949”.
Điểm nổi bật trong bản quy chế này là tính cách hỗn hợp Pháp Việt, viện trưởng do Chính phủ Pháp chỉ định trong các giáo sư người Pháp với sự đồng ý của Chính phủ Việt Nam và do Chính phủ Việt Nam bổ nhiệm trong thời hạn 3 năm. Phó Viện trưởng do Chính phủ Việt Nam chỉ định và bổ nhiệm. Khoa trưởng và Phó khoa trưởng do Hội đồng khoa bầu. Nhân viên giảng huấn có 6 hạng: giáo sư thực thụ (professeur titulaire), giáo sư thạc sĩ (professeur agrégé), giáo sư uỷ nhiệm (professeur sans chaire), giảng sư (chargé de cours), giảng viên (chargé d’enseignement) và phụ khảo (chargé de travaux).
Như vậy viện trưởng sẽ chỉ định một khoa trưởng hoặc giáo sư thay thế khi vắng mặt ở Việt Nam, nhưng trong thực tế vào năm 1968 thì Tổng trưởng bộ Quốc gia Giáo dục thường cử người xử lý thường vụ Viện đại học mỗi khi Viện trưởng vắng mặt.
Trong báo cáo “Hiện trạng của Giáo dục và vấn đề căn  bản pháp lý” của Ủy ban soạn thảo Dự luật Giáo dục Đại học vào ngày 11-11-1972 [23], đã ghi:
“Cho đến nay, các viện Đại học Quốc gia hiện hữu vẫn áp dụng qui chế đại học cũ của chính phủ Pháp để lại, gọi là “Qui chế đại học hỗn hợp”. Về phương diện quản trị nhân viên đại học bị chi phối bởi “qui chế chung Công chức” ấn định bởi dụ số 9 ngày 14-07-1950, mặc dù sắc lệnh số 139-SL/Th.T./CV ngày 22-09-1972 có cải thiện được đôi chút về quyền lợi cho nhân viên giảng huấn đại học…”.
Để tiến đến việc ban hành sắc luật đại học, từ năm 1954 đến năm 1973, có tất cả 5 dự thảo về giáo dục đại học: Dự thảo của viện Đại học Sài Gòn, năm 1957, về qui chế lương bổng giáo chức đại học; Dự thảo của viện Đại học Sài Gòn, năm 1969, về qui chế tự trị của các viện đại học Quốc gia; Dự thảo của trường Đại học Luật khoa Sài Gòn, năm 1969, về qui chế của các viện đại học Quốc gia; Dự thảo của bộ luật Giáo dục năm 1970, về tổ chức các viện đại học Quốc gia và nền tự trị của đại học; Dự thảo luật của Hạ Nghị Viện 1970 về qui chế của các Viện đại học Quốc gia [24].
Từ những dự thảo luật này vào tháng 3 năm 1973, Tổng Thống VNCH ban hành “Qui định chế độ Giáo dục đại học Quốc Gia”, trong đó xác định: Giáo dục Đại học đặt dưới sự chỉ đạo của Hội đồng Quốc gia phát triển Giáo dục Đại học. Thành phần Hội đồng Quốc gia phát triển Giáo dục Đại học được ấn định: Thủ tướng (Chủ tịch),Tổng trưởng Bộ Giáo dục (Tổng thư ký), và 9 hội viên là: Tổng trưởng bộ Kế hoạch và Phát triển Quốc gia, Tổng trưởng bộ Tài Chánh, Chủ tịch Ủy ban Văn hóa Giáo dục &Thanh Niên Thượng Nghị Viện, Chủ tịch Ủy ban Văn hóa Giáo dục & Thanh niên Hạ Nghị Viện, đại diện Hội đồng Văn hoá Giáo dục, đại diện Hội đồng Kinh tế Xã hội, một Viện trưởng đại diện Viện đại học công, một Viện trưởng đại diện Viện đại học Cộng đồng, một Viện trưởng đại diện Viện đại học tư.
Hội đồng này có nhiệm vụ: hoạch định chính sách phát triển giáo dục đại học và ấn định sự tài trợ hàng năm cho các viện đại học. Như thế Hội đồng Quốc gia phát triển Giáo dục Đại học không có trách nhiệm trong việc tuyển sinh, chương trình đào tạo, tuyển dụng nhân sự của các viện đại học.Tuy nhiên, từ tháng 3 năm 1973 đến tháng 4 năm 1975 vì tình hình chính trị và quân sự tại miền Nam Việt Nam không ổn định nên chưa có những qui định cụ thể hơn về hội đồng này.
Về phân cấp bổ nhiệm các cấp quản lý [25]:
- Tổng Thống bổ nhiệm Viện trưởng các viện đại học công.
- Tổng trưởng bộ Giáo dục bổ nhiệm các khoa trưởng các đại học theo đề nghị của Viện trưởng
- Các trường đại học và các trung tâm cơ hữu của viện sẽ được thiết lập bằng sắc lệnh của Thủ tướng.
- Các ngành chuyên khoa thuộc các trường đại học được thiết lập bằng nghị định của Tổng trưởng bộ Giáo dục.
Theo “Qui định chế độ Giáo dục đại học quốc gia” nói trên, Tự trị đại học được quy định vào việc quản trị giáo dục đại học, về phương diện tổ chức, điều hành, tài chánh, học vụ và nhân viên, trong phạm vi luật pháp quốc gia. Mỗi viện đại học hay cơ sở giáo dục công lập tương đương có tư cách pháp nhân, và đặt dưới sự quản trị của một Hội đồng Quản trị Đại học có nhiệm vụ: ấn định chương trình phát triển, lệ phí và học phí, tìm và thu nhận các nguồn tài nguyên, kiểm soát việc quản trị tài sản, dự thảo ngân sách và kiểm soát việc thi hành,  ban hành quy chế và nội quy của viện đại học, đề nghị bổ nhiệm các chức vụ Phó Viện trưởng, Phụ tá Viện trưởng và Khoa trưởng.
Như thế, hệ thống đào tạo đại học ở miền Nam Việt Nam trong giai đoạn 1954-1975, được tự trị về học vụ chuyên môn. Ngân sách của đại học công lập thuộc ngân sách Bộ Giáo dục do Quốc hội duyệt hàng năm; nhân viên và giáo sư đại học trực thuộc Tổng ủy Công vụ. 
Năm 1957, theo một nghị định của Tổng Thống VNCH [26] về việc thành lập một trường Quốc gia Kỹ sư Công nghệ thuộc quyền của bộ Quốc gia giáo dục, có một lớp dự bị để thi vào năm I trường này, chỉ đào tạo 3 năm, nếu trường mở thêm năm thứ tư thì nhóm sinh viên này sẽ được chứng nhận là tốt nghiệp trường Quốc gia Cao đẳng Kỹ thuật Công nghệ, do một giám đốc (được bộ Quốc gia giáo dục bổ nhiệm) ký. Những sinh viên tốt nghiệp sau 4 năm, được cấp bằng “Kỹ sư Công nghệ” do bộ trưởng bộ QGGD ký, những sinh viên không đủ điều kiện để cấp văn bằng sẽ được cấp “Chứng chỉ cựu sinh viên trường Quốc gia Kỹ sư Công nghệ” do Giám đốc trường ký. Như thế đại học này có hai loại văn bằng khi ra trường.
Về việc ghi danh học tại các đại học thuộc viện đại học Sài Gòn [27]do tổng trưởng bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên ký, đã qui định:
- Mỗi niên khóa, Khoa trưởng các đại học thành viên sẽ ấn định số sinh viên ghi danh vào năm dự bị tùy theo khả năng thu nhận của trường.
- Thí sinh ghi danh phải hội các điều kiện: đậu Tú tài II ban A hoặc B, Tú tài Kỹ thuật, các văn bằng ngoại quốc được công nhận tương đương.
- Điểm trung bình của hai môn liên hệ quan trọng nhất trong kỳ thi Tú tài II phải đủ cao (tối thiểu 10/20) để chứng tỏ khả năng của sinh viên phù hợp với chứng chỉ liên hệ (thí dụ điểm trung bình 2 môn Lý Hóa, Vạn vật cho chứng chỉ Lý Hóa, Vạn vật; điểm trung bình 2 môn Toán và Lý Hóa cho chứng chỉ Toán Lý Hóa).
- Việc ghi danh thiệt thọ các sinh viên sẽ được xét theo thứ tự ưu tiên về điểm trung bình hai môn quan trọng liên hệ trong kỳ thi Tú tài II.
- Đối với các sinh viên sắc tộc thiểu số, cựu quân nhân, quân nhân tại ngũ và cô nhi tử sĩ được đặc biệt cứu xét trong tinh thần nâng đỡ.
- Sinh viên chỉ được ghi danh học chứng chỉ dự bị tối đa là 2 năm. Chỉ được ghi danh tạm một chứng chỉ dự bị.
 Viện đại học Bách khoa Thủ Đức chỉ chấp nhận đơn đăng ký dự tuyển vào trường thí sinh phải đậu hạng bình thứ (nghĩa là tổng số điểm các môn thi chia cho tổng hệ số phải trên 7 điểm). Vào năm 1974, tổng số học sinh đậu tú tài hạng bình thứ trên toàn miền Nam khoảng 300 - 400 người. Sau đó qua một đợt thi tuyển viện đại học Bách khoa Thủ Đức chọn 40 người (!). Viện được tự do tuyển sinh theo cách của viện, Bộ Giáo dục không có ý kiến.
Các đại học Y - Dược thuộc Viện Đại học Sài Gòn chỉ nhận thí sinh ghi danh sau khi đã có chứng chỉ dự bị Hóa Sinh (SPC) của Đại học Khoa học. Như thế, việc được có một chỗ ngồi trong các đại học thời VNCH cũng khá khó khăn. Một số đại học cho ghi danh (thông thường là các khoa Khoa học Xã hội), nhưng trong quá trình bốn năm học đại học thì bị sàng lọc rất kỹ, số sinh viên còn lại trong năm thứ hai chỉ khoảng 20% và khi tốt nghiệp đôi khi chỉ có khoảng 10% trên số sinh viên đã ghi danh học năm dự bị. Riêng các đại học về kỹ thuật, y dược đều phải qua một kỳ thi tuyển rất gắt gao.
Trong văn bản đề cập đến “Phương sách phát triển giáo dục của Nha kế hoạch và pháp chế học vụ” vào tháng 8/1971 [28] có đưa ra những khuyết điểm của nền giáo dục VNCH thời đó là: “tổng số sinh viên đại học, cao đẳng, kỹ thuật và chuyên nghiệp đã gia tăng, trong khoảng 1960 - 1970 từ 13424 lên 47.021 tức 250 %. Tuy nhiên tỉ số sinh viên trên dân số chỉ chiếm khoảng 0,2%, trung bình trong 1000 người dân có 2 người được vào đại học hoặc cao đẳng. Số sinh viên kỹ thuật mặc dù phát triển theo tỉ lệ 146% trong 10 năm nhưng chỉ chiếm 2,3% trong tổng số sinh viên. Số sinh viên tốt nghiệp hàng năm, số chuyên viên, số cán bộ tốt nghiệp trung cấp không đủ đáp ứng nhu cầu phát triển quốc gia theo chiều hướng khoa học kỹ thuật. Số giáo sư đại học, cao đẳng dù đã phát triển đến 112% nhưng vẫn không đủ đáp ứng phần giảng dạy ở cấp bậc đại học.”
Giáo dục đại học miền Nam trong giai đoạn này phát triển rất mạnh, từ 200 sinh viên năm 1946 đến năm 1974 đã lên hơn 60.000 sinh viên. Nhà cầm quyền miền Nam Việt Nam (giai đoạn 1954 - 1975) cũng có nhiều nỗ lực để phát triển về giáo dục nhưng vì chiến tranh nên ngân sách giáo dục ít, chính quyền không thể bao biện về giáo dục (toàn bộ ngân sách nhà nước thời kỳ này đều đổ vào quốc phòng). Theo các tài liệu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, những người chịu trách nhiệm về đào tạo giáo dục bậc đại học đã đưa ra những báo cáo, những đề nghị, những tiêu chí rất hay về giáo dục nhưng các giáo sư, sinh viên trong thời gian này luôn phập phồng lo sợ bị bắt theo luật tổng động viên nên không an tâm nghiên cứu học thuật, do đó khó đạt được tiêu chuẩn chất lượng đào tạo đại học đúng nghĩa.
Nhờ Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, những tài liệu viết về nền giáo dục đại học của Việt Nam Cộng Hòa đã được lưu giữ đến ngày nay mà bài viết trên chỉ thể hiện được một phần quá nhỏ. Những tập hồ sơ, những tờ giấy đánh máy ố màu, vàng ngà, mỏng tanh, được sắp xếp theo trình tự thời gian, tựa đề, đã giúp cho những người nghiên cứu dễ dàng hơn khi thực hiện các đề tài của họ. Để giữ được những tài liệu lịch sử này, những người làm việc tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II đã làm một công việc hết sức thầm lặng nhưng vô cùng ý nghĩa cùng với niềm tự hào họ đang bảo quản một kho tài liệu nếu xếp theo một hàng ngang có thể tính bằng hàng ngàn cây số tài liệu. Một phần bí mật của Việt Nam từ thời thuộc Pháp đến bây giờ đang nằm trong kho lưu trữ này chờ các nhà nghiên cứu khám phá.



[1]  Thực trạng về hoạt động của sinh viên và nền đại học Việt Nam, tháng 10/1969, phông PTTVNCH, số29764, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.
 [2]  Nghị định về tổ chức đại học Kiến trúc Sài Gòn ký ngày 22/10/1968, phông PTTĐIICH, số 5946, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.
[3] Sắc lệnh số 264-TT/SL thiết lập tại Thủ Đức Viện đại học Bách khoa Thủ Đức ký ngày 29/03/1973, phông PTTĐIICH, số 3985, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.
[4] Sắc lệnh số 641-TT/SL của Tổng Thống VNCH, ký ngày 18/07/1974 v/v thiết lập tại thị xã Đà Nẵng một Viện Đại học Cộng đồng Quảng Đà, phông PTTĐIICH, số 31338, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.
[5] Viện đại học Cộng đồng đầu tiên sẽ được thiết lập tại Bến Tranh,VTX, 12/2, phông PTTĐIICH/3834, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II
[6] Ký sự quốc nội (1965), Việt Tấn Xã (5310), 23/09, phông PTTĐIICH, số 3834, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.
[7] Viện đại học Vạn Hạnh khai giảng niên khoá 1972-1973 (1972),Việt Nam Thông Tấn Xã, ngày 15/11, phông PTTĐIICH, số 6579, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.
[8]  Nghị định số 3590/ GD/KHPC/HV ngày 22/12/1972 hợp thức hoá Viện đại học Minh Đức”, phông PTTĐIICH, số 6579, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.
[9]  Tài liệu về tổ chức Đại học Hòa Hảo, phông PTTĐIICH, số 6172, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.
[10] Văn thư số 1466/GDTN/PC ngày 8/3/1969 v/v xin mở đại học Dân Trí tại Long Xuyên, phông PTTĐIICH, số 6579, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.
[11] Văn thư số 3931/GDTN/PC ngày 25/05/1970, v/v xin mở viện đại học Bảo Lộc tại Sài Gòn, phông PTTĐIICH, số 6579, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.
[12] Viện Đại học Phương Nam tuyển sinh (1974), Điện Tín, ngày 06/11.
[13] Giấy phép tạm số 3343/ GDTN/PC ngày 3/05/1972, v/v cho mở Tư thục Học viện Phụ nữ Tư thục Cộng đồng Régina Pacis tại Sài Gòn, phông PTTĐIICH, số 3644, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.
[14] Giấy phép tạm cho dời Viện đại học tư thục Cửu Long về số 1 bis đường Hoàng Diệu, Phú Nhuận, phông PTTĐIICH, số 6579, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.
[15] Nghị định số: 2715/VHGDTN/CTPC/PC2/NĐ7 ngày 29 tháng 11 năm 1974 sửa đổi điều 2/NĐ 2437-VHGDTN/KHPC/HV/NĐ ngày 22 tháng 10 năm 1973 hợp thức hoá Học viện Tri Hành, phông PTTĐIICH, số 6579, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.
[16] V/V xin thành lập Viện Đại học Tư thục Canh Tân; văn thư số 10689 VHGDTN/CTPC/PC2/7 ký ngày 29/11/1974, phông PTTĐIICH, số 6579, Trung tTâm Lưu trữ Quốc gia II.
[17] Giấy phép tạm số 1578/VHGDTN/CTPC/PC2/7 ngày 04/02/1975, v/v mở viện Đại học kỹ thuật Đồng Nai tại tỉnh Bình Dương, phông PTTĐIICH, số 6579, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.  
[18]  Đoàn Viết Hoạt (1975), “Vai trò của Đại học, Tư tưởng (48).
[19]  Chỉ nam Sinh viên Đại học Sài Gòn, 1966, VĐHSG.
[20] Tường trình lý do của Hội đồng Văn Hóa Giáo dục, PTTĐICH, số 3833, Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia II.
[21] Thắc mắc về việc thi vào viện đại học Bách khoa Thủ Đức, VNTTX số 8551, 28/8/1974, phông PTTĐIICH/3834, Trung tâm Lưu trữ Quốc Gia II.

[22] Phiếu trình của Tổng thư ký Phủ Tổng thống VNCH, số 317/PTT/TTK/LP ngày 18/12/1968, phông PTTĐIICH/3855, Trung tâm Lưu trữ Quốc Gia II.
[23] Tường trình của uỷ ban soạn thảo dự luật Giáo dục Đại học, ký ngày 11/11/1972, phông PTTg, số 31.125, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.
[24] Bài thuyết trình về Dự luật Giáo dục Đại học của giáo sư Đổ Bá Khê, thứ trưởng Giáo dục, phông PTTĐICH, số 3741, Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia II.
[25] Sắc lệnh số 264-TT/SL thiết lập tại Thủ Đức Viện đại học Bách Khoa Thủ Đức, ký ngày 29/03/1973, phông PTTĐIICH, số 3985, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.
 [26] Nghị định số 114-GD ngày 22/3/1957 thành lập trường Quốc gia Kỹ sư Công nghệ, PTTĐICH, số 1145, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.
[27] Nghị định số 2275/VHGDTN/KHPC/HV/NĐ ngày 25/9.1973 ấn định việc tuyển chọn sinh viên ghi danh học tại Khoa học Đại học Saigon, phông PTTĐIICH, số 3985, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.
[28] Phương sách phát triển giáo dục của Nha kế hoạch và pháp chế học vụ, vào tháng 8/1971, phông PTTĐIICH, số 3622, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.

  Ở NHÀ MỘT MÌNH ( Không giống phim ở nhà một mình của cậu bé 7 tuổi mà là bà già 70 tuổi ở nhà một mình để tránh virus Covid 19)   ...