Thứ Hai, 21 tháng 1, 2013

SỐNG


Buổi chiều cố gắng ra khỏi nhà để đến gặp chị theo lời hứa đưa quyển sách. Ngồi nói dóc.Hỏi về việc tại sao tôi ly dị, nói vì bố con gái tôi có bà khác về nhà chụp mũ lung tung để được sống chung với bà này. Tại sao gặp nhau ? Tại sao có những cuộc xung đột trong nhà ? Vì, tôi ích kỷ, tôi không chìu theo ông ấy những dòi hỏi như phải mua cho em ông ấy nhà, vì …tôi chán cảnh sống với con chồng mệt mỏi !!!...Thế thôi ! Bây giờ tôi Độc Lập- Tự do- Hạnh phúc,…khoẻ re.
Chị kể về gia đình, về người cha, về tình yêu với chồng chị. Hình như nói cho vui, nói để củng cố lại tình yêu, nói để chịu đựng sự thật hiện tại là mình đang khổ quá. Khổ mà không dám nói gì, không dám cào nhào, không dám than thở, không dám vứt bỏ,…Bây giờ phải nói về ngày xưa, những ngày đầu yêu nhau, vì giáo dục gia đình, không quên khó , phụ bần, phải biết trước biết sau, phải biết ngày xưa chồng mình khoẻ mạnh thì tốt đẹp, bây giờ bệnh tật phải ráng chịu đựng, cưng chìu, thế thôi…Những người con thì không thể nói, những người bạn cũng không thể gặp nhau để than vãn,… Nói về cái thời oanh liệt , đẹp xinh của thiếu nữ. Của số  đo 90-60-90 ngày nào. Của những đêm dài thức trắng viết truyền đơn, cũng những ngày chạy đôn chạy đáo từ nơi này đến nơi khác làm việc để che giấu công việc bí mật…Của những ngày hét ra lửa khi quản lý hơn 7 công ty. Của những ngày trí tuệ phải bật máu để thương lượng với đối tác nước ngoài dành lại quyền lợi cho công ty mình quản lý.
Gánh một gánh khổ. Bây giờ quen chưa, quen như Thanh Sâm thấy nó thường thường, thường thường như những việc thường ngày thế thôi . Hết biết khổ rồi. Hết cảm thấy khổ rồi. Không phải chấp nhận như thế mà là coi đó là việc thường, ừ, bình thường thôi.
Người phụ nữ ngồi nói về gia đình hiện tại, ngồi kể lại cái thời xưa,…có vẽ đơn giản, không chua xót…May tấm màn để ăn tết. Chăm sóc đức ông chồng cho sạch sẽ. Lau không còn một hạt bụi những nơi ông chồng có thể đi qua. Bụi bẩn sẽ làm bịnh ông ấy trầm trọng hơn. Xoay bên đây siêu thuốc Nam, quay bên kia quyển kinh Phật. Thuốc ư! Trong tầm tay với. Nước ư! lúc nào cũng đầy đủ trên bàn. Ông ấy chỉ cần ú ớ là có. Mà không cần ú ớ nữa, chỉ cần nhìn, chỉ cần đưa tay ra là biết ông ấy muốn gì ? Không thể để con trai chăm sóc bố. Không thể thuê người khác làm vệ sinh. Chỉ có mình chị, vì ai cũng không làm anh ấy hài lòng! Mà chị cũng không hài lòng! Một đôi khi lại ái nái, lại cảm thấy chị có lỗi khi bỏ mặc anh ấy cho người khác chăm sóc…
Chị ngồi nói, mắt ráo hoảnh. Không thấy mình khổ. Mà cũng chẳng dám nói mình khổ, cũng chảng dám than, chỉ kể lại thôi : ngày xưa, gia đình tôi gia giáo thế, tôi yêu anh ấy như thế, tôi lo lắng gia đình chồng như thế.
Và, tôi, người đang tự hào độc lập, tự do, hạnh phúc,…lặng câm.

Thứ Ba, 8 tháng 1, 2013

BỨC THƯ NGỎ CỦA NAM NỮ SINH VIÊN GỬI TOÀN THỂ QUÍ VỊ GIÁO SƯ ĐẠI HỌC SAIGON


BỨC THƯ NGỎ CỦA NAM NỮ SINH VIÊN GỬI TOÀN THỂ QUÍ VỊ GIÁO SƯ ĐẠI HỌC SAIGON
(trích từ sách “ Góp phần phê phán Giáo dục và Đại học” của Nguyễn văn Trung, nxb Trình Bày, 1967)
Saigon, ngày 8 – 10 – 1963.
Kính thưa Quý vị Giáo sư,
Đáng lẽ chúng tôi phải viết bức thư này hầu quý vị từ lâu. Lần lữa mãi bây giờ mới quyết tâm, trong lòng thật vô cùng đau khổ. Nhiều lý do đã làm chúng tôi ngần ngại. Trước hết đề tài và mục tiêu bức thư này có nhiều điều tế nhị khó nói. Quả thật là tế nhị vì những mối quan hệ giữa thầy và trò nay đã vượt xa lãnh vực giáo dục thuần túy để biến thành những quan hệ giữ người và người. Lý do thứ hai là chúng tôi vẫn hằng hy vọng đợi chờ ở quý vị một cái gì khả dĩ dẫn dắt chúng tôi trong cơn khủng hoảng tinh thần do vấn đề Phật giáo và sự đàn áp nam nữ sinh viên chúng tôi ở mọi phân khoa gây nên. Chúng tôi vẫn tự phụ rằng nếu phần đông quý vị chưa lên tiếng một cách cương nghị và tích cực, đó chỉ là muôn đủ thời giờ suy ngẫm kỹ càng về những biến cố ấy, và sau khi đã lấy tư tưởng để soi sáng cho chính mình, quý vị sẽ tìm thấy con đường dẫn dắt chúng tôi. Quý vị đã im hơi lặng tiếng và tới nay vẫn lặng tiếng im hơi. Thái độ ấy đã bóp chết vọng tưởng cuối cùng của chúng tôi về quý vị. Sự chậm viết bức thư này còn một lý do thứ ba nữa: bây giờ lệnh giới nghiêm đã được thu hồi, mực sống đã trở lại bình thường, lòng dân theo báo chí bị mua chuộc và đài phát thanh do chính phủ kiểm soát đã lắng yên, nhiều sự việc đã tự nó được sáng tạo, nhiều sự việc đã tự nó được sáng tỏ bằng cách này hay cách khác, và trong khoảng thời gian rất ngắn ngủi vừa qua, nam nữa sinh viên chúng tôi cũng đã tự mình phán đoán được những sự việc liên quan đến chính bản thân theo đúng giá trị của nó,- thi thử hỏi còn có ai, ngoài quý vị ra, để chúng tôi có thể bộc bạch được những tư tưởng thầm kín nhất của chúng tôi?
Bởi vậy nên  hôm nay, với một tâm trí bình tĩnh, gạt mọi mối xúc động quá khích trong lòng,- thời gian đã giúp chúng tôi chế ngự được nhưng không vì thế mà làm sứt mẻ niềm tin tưởng của chúng tôi về cái mà chúng tôi vẫn coi là chính đáng và cần phải lớn tiếng kêu lên,- chúng tôi mới gửi quý vị bức thư này. Mà làm như vậy chúng tôi không nghe theo mệnh lệnh của một ai, chẳng chịu ảnh hưởng của một màu sắc hay nguồn gốc nào, mà chỉ theo lương tâm và niềm tin tưởng sâu xa của chính chúng tôi mà thôi. Không một tiếng nói nào ngoài tiếng nói của đáy lòng đã nhủ thầm bên tai chúng tôi. Không một bàn tay nào ngoài bàn tay của chính chúng tôi đã cầm bút để viết bức thư này.
Tất nhiên là sẽ có kẻ kêu ầm lên là có Cộng sản xúi dục bên trong. Mọi việc cứ đổ lên đầu Cộng sản là tiện nhất! Làm như ở nước này, ngoài Cộng sản ra, chẳng còn một ai đủ lí trí để xét đoán cái thực chất của chính thể này và tất cả sự nguy hại của nó nữa! Nhưng chúng tôi sẵn sàng chịu mang điều tiếng ấy bởi lẽ lòng vững tin rằng vượt lên trên chủ nghĩa Cộng sản, vượt lên trên chủ nghĩa Quốc gia hay bất cứ chủ nghĩa nào khác, còn có sự thật. Mà chỉ có sự thật mới đáng kể.
Vậy thì, kính thưa quý vị Giáo sư, tất cả quý vị đã chẳng lạ gì vụ Phật giáo đã tiếp diễn như thế nào, từ cuộc đàn áp đẫm máu, dã man ở Huế, tự sự hy sinh tự thiêu cao cả của cố hòa thượng Thích Quảng Đức đã được một vài đồng đạo ở các tỉnh khác và mới đây ở giữa công trường chợ Bến Thành Saigon ngày 5 – 10 – 63 noi gương, cho đến cuộc tổng tấn công hung bạo vào các chùa chiền trong nước đã gây phẫn nộ trong dư luận nước nhà và ngoại quốc. Cho tới đó quý vị vẫn đứng ngoài cuộc, có lẽ cũng xúc động đấy vì dù sao đâu đến nỗi như những kẻ thiếu lương tri,- nhưng về thái độ phải tỏ rõ thì vẫn thận trọng với đủ lí lẽ cần thiết. Lúc ấy, một số anh chị em chúng tôi, tinh thần hoang mang hỗn loạn, có đến xin ý kiến một số quý vị. Câu trả lời của những quý vị này toàn đượm tính chất tổng quát, thoái thác và thận trọng, một cách khôn khéo mà, xét cho cùng, chẳng thể lừa nổi một ai về ý nghĩa thực của nó là sự khiếp nhược. Chín năm chủ nghĩa nhân vị mơ hồ, chín năm chồng Cộng mập mờ, đồng tiến xã hội ích kỉ vì chỉ dành riêng cho lũ tay sai trung thành, chín năm dân chủ giả hiệu nhờ ở sự tuyên truyền hạ đẳng và bịp bợm, hầu như đã bít tắt lương tri của quý vị. Không! Đâu có thể được! Nếu thế, thì chẳng hóa ra Trời ác quá sao? Phần đông quý vị đều đã du học Âu Mỹ trở về, đầu óc nhiễm đầy khoa học, văn hóa Tây phương, đâu có cam tâm chịu như vậy được! Nhưng sự thật sờ sờ ra đó, dù muồn dù không,- cái đó không cần biết,- quý vị đã mang tâm cam chịu. Thôi thì chúng tôi cũng cảm thông cùng quý vị. Nào địa vị phải củng cố, bổng lộc phải bảo vệ, biết thự xe hơi phải giữ chắc, mức sống gia đình phải nguyên vẹn. Những mối lo âu ấy thật chính đáng: đó là những ân lợi quý vị được quyền hưởng tương xứng với chứa vụ và trách nhiệm của quý vị. Mà trách nhiệm nào có nhỏ. Dìu dắt, giáo huấn cả một thế hệ thanh niên Đại học, đâu phải chuyện chơi. Suốt chín năm dòng, chúng tôi vui theo quý vị, tin cậy ở tài năng và kinh nghiệm của quý vị, thiết tha mong quý vị rèn luyện chúng tôi chẳng những thành con người có học thức mà còn thành con người xứng đáng là con người, con người biết nghĩ và, lúc cần, biết hổ thẹn.
Thế rồi, tới cái ngày Trời định rằng trên mảnh đất nước không may này đang bị một cuộc chiến tranh tàn khốc xâu xé đã hơn hai mươi năm nay, phong ba bỗng dồn dập xuống. Cái ngày đó, kính thưa quý vị Giáo sư khả kính, nhờ những mảng bằng đồ sộ của mình mà quý vị được coi như những nhà đại diện chính thống của giới tri thức Việt Nam, như những nhà dìu dắt của một bầy chiên đông đảo và non dại là bọn thanh niên Đại học chúng tôi đang nóng lòng ngóng tai để nghe những lời vàng ngọc ở cửa miệng quý vị ban cho, cái ngày đó, quý vị đã lặng thinh bất động; rồi cùng quá,- vì chẳng lẽ không làm gì, quý vị mới ký vào một bản kiến nghị vu vơ,- mà còn kí muộn nữa! – kiến nghị mà các quan thầy của quý vị chỉ vừa liến mắt qua một chút là đã có tên hầu vứt ngay vào sọt giấy. Thế nhưng quý vị cũng đã phản ứng đấy chứ! Phản ứng theo kiểu trí thức của quý vị. Quý vị cũng đã giơ tay can thiệp đấy chứ! Dơ tay vừa đủ tầm để ngoạch tên lý trên một tờ giấy mà lời lẽ không có hồn vì thiếu niềm tin tưởng. Như thế sao mà còn trách được quý vị nữa? Sao còn đòi hỏi ở quý vị nhiều hơn thế nữa, khi mà mới một vài ngày sau vụ tự thiêu của Cố Hòa Thượng THÍCH QUẢNG ĐỨC để phản đối chính sách tàn ác bất công của nhà cầm quyền, hầu hết chư quý vị, nào Khoa trưởng, nào Giáo sư, nào Giảng sư, nào Giảng viên ở mọi phân khoa,lũ lượt kéo nhau lên làng Đại học Thủ Đức để thảo luận về quy chế “Hương ước Làng Đại Học”, với tất cả lòng hăng hái, trí mẫn tiệp của những bộ óc luận lý vô cùng đanh thép. Thật là mải mai chua chát! Trong khi tự do tôn giáo và tín ngưỡng của cả một quốc gia dân tộc,- mà torng đó nếu chúng tôi không lầm, cũng có quý vị,- bị đe dọa và chà đạp, thì quý vị vẫn thản nhiên tự mãn lấy mình một cách khoái trá trong một cuộc cãi lộn không đâu về một văn kiện có thể coi như một kiệt tác về nô lệ và hổ nhục chưa từng được nghĩ ra và viết ra bởi một Giáo sư Đại học, một đồng nghiệp của quý vị là giáo sư Vũ Quốc Thông. Thế mà thời giờ họp nhau để tự vấn lương tâm trước biến cố quan trọng của nước nhà thì tuyệt nhiên quý vị không có lấy một giây một phút. Nghĩ cho cùng hành động của quý vị cũng là có lý: những điều lệ quy định sự sinh hoạt trong làng Đại học của quý vị quan trọng hơn những chuyện khác nhiều. Nó liên quan mật thiết tới quý vị bởi động chạm tới chính quyền lợi của quý vị. Cháy nàh hàng xóm, bình chân như vại là thế. Còn những chuyện không đâu, phủi tay đi, cần gì ngó tới. Trước tâm trạng đó, chúng tôi bỗng tự hỏi chữ nghĩa mà quý vị ních chặt đầy đầu và những ân lộc mà quý vị đang được hưởng, không khéo đã bịt tắc mất lương tâm của quý vị rồi chăng? Thái độ thờ ơ lãnh đạm và tinh thần vô trách nhiệm trước thời cuộc nước nhà như thế quả là vô song, chỉ có tính ích kỉ khủng khiếp của quý vị mới có thể bì được. Nếu vậy học thức của quý vị dùng để làm gì? Ngay từ lúc bé mới cắp sách đến trường, người ta đã dạy chúng tôi, cũng như đã dạy quý vị, rằng học càng cao thì càng biết cách suy xét và xử thế. Chúng tôi có cảm tưởng là quý vị cứ thích làm cho người ta hiểu trái lại về quý vị. Và cũng mâu thuẫn nữa là, cách đây không bao lâu, vào năm 1930, một học viên quèn ngành Sư phạm tên là Nguyễn Thái Học, tuy học thức không bén đến gót quý vị, đã làm thức tỉnh được hồn dân tộc và lôi cuốn được quốc dân chống lại thực dân Pháp. Ít nhất con người không bằng cấp đó cũng đã cho chúng tôi một bài học về cách suy xét và xử thế sao cho ra hồn con người và hơn thế nữa đã cho chúng tôi một lý do để hãnh diện và hy vọng. Tuy vậy cũng phải công bằng mà nhận cho quý vị một điểm này: một vài đồng nghiệp của quý vị, có lẽ trong góc tối của lương tâm cũng có cảm thấy một chút gì ngường ngượng, đã có ý xin từ chức. Thương thay! Những vị đó lại không dám đi tới cùng và ý định của họ chỉ chơi vơi giữa trời khác nào quả pháo đã đốt muộn lại tịt ngòi! Trong tình trạng đã nghèo nàn về “trí dũng” mà còn được một cuộc “đẻ hụt” như vậy, kể cũng đã là may mắn lắm. Nhưng kết quả  kẻ bị gạt có lẽ là Đài bá âm Luân Đôn BBC đã loan tin có 35 vị Giáo sư Đại học Saigon đưa đơn từ chức, tin này đã được nhà cầm quyền VN cải chính liền. Mấy người phụ trách chương trình VN của Đài BBC Luân Đôn quả đã trông gà hóa quốc, nào có dè đâu “ý định từ chức” của quý vị thực ra vẫn chỉ nằm yên trong lãnh vực “ý tưởng thuần túy” mà thôi.
Và bây giờ nghĩ sao về ông Khoa trưởng Đại học Luật khoa, (…), với bức thư chỉ xin từ chức Khoa trưởng gửi cho Ông Bộ Trưởng bộ Quốc gia Giáo dục, - bức thư thuần một giọng tự tán dương và tự bào chữa một cách trâng tráo, trơ trẽn, chỉ có những kẻ chuyên liếm gót mới viết nổi. Trong thư ông buộc tội chúng tôi đã “áp đảo” ông, “uy hiếp” ông đến nỗi ông phải từ chức Khoa Trưởng. Nhân vật tên tuổi ấy quả là thiếu óc khôi hài.
Nam nữ sinh viên chúng tôi, khi giới không ngoài đôi bàn tay không, uy thế không vượt nổi địa vị học trò, làm sao mà gây nổi sự “xuống nước” cùa vị đó, làm sao mà “đàn áp” được ông trong khi lao tù chật ních chúng tôi, thân thế bị tàn hủy bởi những đòn tra tấn ác độc? Rồi vẫn một giọng đạo mạo không cười, vị Khoa Trưởng đáng kính kia ngỏ ý chỉ muốn “lui về địa mình lại” thì giả thuyết đó, tuy vẫn còn là ảo tưởng đấy, nhưng nghe còn có thể xuôi tai được.
Lại còn một nhân vật khác nữa, danh tiếng không kém là Giáo sư Thạc sĩ V.V.M., (…), đã tỏ ý phản đối cuộc tổng tấn công hung bạo các chùa chiền trong nước, bằng cách cạo trọc đầu và đưa đơn từ chức. Chúng tôi chỉ còn biết nói với vị đó điều này: “Ông đã chuộc lại được cái danh dự của Đại học tới một mức độ nào. Nhưng xin hỏi, ông có thật thấy cần phải đi sang nước Ấn Độ xa xôi mới “hành hương” được sao? Ngay gần nhà ông, một vị Hòa Thượng đã tự hủy mình để nêu gương vô úy, và chỉ cách tư dinh ông vài bước cũng có một ngôi chùa tượng trưng cho dũng cảm, tự do và vong kỷ”.
Nhưng dù sao, cả đến cử chỉ khá đẹp như trên của vị đó vẫn không đánh tan được mối áy náy lo phiền xâm chiếm tâm trí chúng tôi sau khi được tin gần toàn thể Giáo sư Đại học Huế đưa đơn từ chức. Chúng tôi trông chờ ở quý vị một hành động chính đáng, dù chỉ là để tỏ tình liên đới đối với các đồng nghiệp của quý vị, chứ chưa dám mong quý vị biểu lộ sĩ khí, Hỡi ôi! Ngay cả đến giữa quý vị với nhau là kẻ đồng hội đồng thuyền mà nguyên tắc “sống chết mặc bay” cũng được quý vị tôn trọng một cách triệt để và nghiêm chỉnh. Đấy, tư cách của các bực thầy chúng tôi được phơi bày ra ánh sáng trước con mắt khiếp hãi của chúng tôi là như thế đấy! Làm sao mà nhân phẩm của quý vị có thể đốn mạt đến một mức trầm trọng và lớn rộng đến thế, quả không một ai tưởng tượng nổi. Thì ra cái chủ nghĩa duy vật đê tiện kia, xét cho cùng, đâu đã phải là của riêng của Cộng sản vô thần, vô Tổ quốc! Những sự kiện hiển nhiên như vậy khiến chúng tôi chắc rằng Giáo sư Thạc sĩ N.C.H., người chủ xướng đề tài thảo luận “Tri Thức, Người Là Ai?” trong một tạp chí Việt Nam đã tìm được câu trả lời thích đáng cho chính mình về câu hỏi gai góc đó. Tóm tắt lại, tinh thần của các bậc lãnh đạo tinh thần của chúng tôi là như vậy. Nếu sự xác định một cách đúng mức và vô tư cái tinh thần ấy là khẩn thiết, thì việc tìm hiểu xem cái tinh thần ấy sẽ dẫn dắt chúng tôi tới đâu lại còn khẩn thiết hơn. Vì rằng cứ nhìn quý vị mà liên tưởng tới hình ảnh sau này của chúng tôi cũng một hình một sắc như quý vị ngày nay, chúng tôi không khỏi rùng mình ghê rợn và thất vọng nếu nếu không dám nói là kinh tởm. Chúng tôi cũng chưa dám đi đến chỗ tuyên bố hai chữ “tuyệt giao” giữa quý vị và chúng tôi. Nếu đến bước đường ấy thì khổ tâm lắm thay! Nhưng chúng ta hãy can đảm nhìn thẳng vào sự thật: hầu hét quý vị đã làm cho chúng tôi thất vọng một cách sâu xa và thấm thía.
Nào chúng tôi có dám mong ở quý vị một hành vi hiển hách nào đâu: chúng tôi cũng dư biết quý vị chẳng được đến trình độ đó. Chỉ dám xin quý vị hãy biểu lộ một chút gì gọi là tư cách của con nhà tri thức mà thôi. Vâng, thưa quý vị Giáo sư khả kính, chúng tôi chỉ mong ước có vậy. chẳng dám đòi hỏi quý vị bạo động hay đại ngôn, chẳng dám mong mỏi quý vị  đọc những diễn văn nảy lửa hay biểu tình ngoài công lộ. Chẳng dám thích thấy quý vị hoa chân múa tay đúng chỗ hay không đúng chỗ. Chỉ dám ước ao quý vị tỏ rõ chữ “THÀNH” với chính bản thân mình, chứ cũng chưa dám nói đến chữ “THÀNH” đối với quốc gia dân tộc là những thực thể trừu tượng. Hay là quý vị cũng bị ảnh hưởng bởi sự tuyên truyền hiểm độc lắt lèo của nhà cầm quyền bắt chúng ta nhìn đâu cũng thấy Cộng sản cả? Không một phút nào chúng tôi có thể nghĩ rằng quý vị là những con người “tự do” vì học rộng, kinh nghiệm dày, lại chịu để bịt mắt che tai. Chúng tôi, đám con em của vị, dù chưa có kinh nghiệm bản thân về những ác độc của Cộng sản mà chỉ được biết qua sách vở, thì trước cảnh di cư của ngót một triệu đồng bào Bắc cũng đã hiểu sự tình, và trong lòng chúng tôi cũng thật tâm chống Cộng, nhưng sự chống Cộng phải sáng suốt mới được. Quý vị tài cao học rộng, xin quý vị hãy giải nghĩa cho chúng tôi hay sự hung bạo “Cộng sản” và hung bạo “Quốc gia”, sự bất công “Cộng sản” và bất công “Quốc gia”, sự vô nhân đạo “Cộng sản” và vô nhân đạo “Quốc gia” khác biệt nhau ở điểm nào? Đối với chúng tôi, tâm trí còn non nớt, thì hung bạo, bất công, vô nhân đạo dù ở phía nào tới cũng chỉ man g một màu sắc: màu sắc của khủng khiếp và tàn ác cần phải diệt trừ thật hết. Chúng tôi nghĩ rằng cần phải  chống đối những cái dã  man đó vì chúng tôi có bổn phận phải gìn giữ dân quyền của chúng tôi, và nếu không chống đối thì có khác chi tiếp tay cho hung bạo, bất công và vô nhân đạo tự do hoành hành? Chúng tôi vui lòng chịu khổ khi dân quyền của chúng tôi không bị xúc phạm. Nhưng nếu công bằng và dân quyền đều bị chà đạp, thì chúng tôi nhất quyết phải tự bảo vệ. Quý vị đã làm được những gì cho công cuộc đó? Quý vị đã chịu đựng  những gì? Chúng tôi cảm tưởng rõ rệt là quý vị thích giữ cái tư thế “chân trong, chân ngoài”. Quý vị không thích đi hẳn với chính quyền có lẽ vì trong thâm tâm quý vị cũng không đồng ý với họ, nhưng quý vị lại cũng không muốn ở hẳn ngoài, vì có thể mất hết những đặc ân mà chính quyền đã ban cho. Cái gì quý vị cũng muốn vơ hết về phần mình mà không muốn mất một mảy may: muốn người khác tôn sùng mình là nhà ái quốc, muốn hãnh diện với thiên hạ, muốn thiên hạ nể vi, muốn danh cao bổng hậu, muốn hết, muốn ráo, mà không muốn bỏ ra cho dù chỉ là một ly một tí gì của lòng mình. Thật nghĩ quý vị còn xấu xa hơn cả những con buôn tích trữ dầu cơ vì ít ra họ còn dám liều, dám chịu mất để mà có. “Vậy thì các người hãy lấy những gì của các ngưới, rồi đi đi!”. Câu nói đó không phải của chúng tôi, mà là ở trong KINH THÁNH GIA TÔ đấy, thưa quý vị. Ừ, mà phải, tại sao quý vị không xuất ngoại nhỉ? Số phận kẻ khác ở cái đất nước vô duyên này có đáng được quý vị quan tâm đến đâu?Chúng tôi thường được nghe một vài người trong quý vị thổ lộ rằng “họ đã hi sinh rất nhiều khi trở về nước, vậy họ phải được đền bồi cho xứng đáng”. Không biết quý vị đã hi sinh những gì? Sống hàng năm trời ở nước ngoài để được yên ổn học hành đỗ đạt, trong khi ở nước nhà đã có kẻ khác chết thay trong trận chiến tranh tàn khốc này, là hi sinh ư? Và quý vị muốn được đền bù như thế nào nữa? Một địa vị ư? Ở trình độ của quý vị, đâu lại đi xin một địa vị? Chỉ có, hoặc từ chối, hoặc nhận, rồi mà vẫn cứ than van! Quả là  quý vị cứ thích lẫn lộn phục vụ với được phục vụ. Quý vị cho phép chúng tôi đưa ra một ý kiến: tại sao quý vị không đi quách sang một nước Phi Châu nào đó đang cần đến những chuyên viên và giáo sư tài ba như quý vị? Hoc thức, quý vị có dư, còn lương tâm sá kể chi! Trái lại, chúng tôi lại chỉ khao khát lương tâm hơn là học thức. Chính điểm này là hố sâu ngăn cách chúng ta. Và cũng chính vì điểm này mà nam nữ sinh viên chúng tôi vẫn bị de dọa, bắt bớ, tù đày, tra tấn. Nhưng chúng tôi đâu có sợ đàn áp, chúng tôi còn đợi chờ nó nữa. Và, tùy theo bản tính mỗi người, chúng tôi có thể run lên về thể xác mà không bị lung lạc, có thể chịu đau đớn nhưng không loạn tâm, khác nào khi gặp gió cả, cành lá có thể bị lay động mà thân cây vẫn không chuyển. Sở dĩ vững tâm được như vậy, là vì chúng tôi nghĩ rằng tất cả những hành động tốt đẹp của chúng tôi từ trước tới nay đã được tự chúng tôi thực hiện với một tâm hồn bình thản. Vâng, bình thản, vì nỗi khiếp sợ đầu tiên của chúng tôi mà khi chúng tôi tìm đến vấn kế không một ai trong quý vị đã giúp chúng tôi xoa dịu nó, nỗi khiếp sợ đầu tiên ấy đã được nhổ từ cội rễ khỏi tâm trí chúng tôi. Và chúng tôi bây giờ đã có niềm tin trong lòng, niềm tin ở ĐẠO PHẬT mới đến với chúng tôi như một tia sáng giác ngộ rọi vào cõi u minh. Niềm tin ấy dạy chúng tôi rằng người ta chỉ cúi đầu trước Đấng Thế Tôn mà thôi, và Tôn Giáo được đặt ra chẳng phải là để lễ cho sứng, hát cho hay, mà là để biết đi tìm một cái chết cho hợp với tư tưởng cùa chính mình. Xin quý vị đừng coi đó là “tâm lý thất vọng” của một “giới thanh niên”. Vấn đề chỉ là cái “giới thanh niên” ấy, sau những giây phút chần chờ, hoang mang không tránh được, đã biết đảm nhận lấy trách nhiệm của mình, thế thôi. Người ta vẫn thường khuyên chúng tôi: “Đừng bàn việc thời đại. Các anh chị chỉ có một việc là học hành để sau này dành được một địa vị trong xã hội”. Nhưng con người đâu có chỉ sống về cơm áo? Và cũng vì chúng tôi sống trong thời đại, thì hỏi, nếu không quan tâm đến chuyện thời đại thì làm gì bây giờ? Làm gì bây giờ, nếu không là tạm gác sự học một bên để bình tĩnh mà suy ngẫm về sự trụy lạc tâm hồn của các bậc đàn anh hầu tránh sự trụy lạc của chính tâm hồn chúng tôi, nếu may ra tâm hồn chúng tôi còn chưa bị ngộ độc bời bầu không khí xú uế mà quý vị đã bao trùm chúng tôi bấy lâu nay. Chẳng còn mong chờ được vào ai ngoài mình ra, bổn phận của chúng tôi bây giờ là cố tự tìm cho mình một chính đạo. Sẽ có kẻ lớn tiếng rằng bức thư gửi đến quý vị đây, chỉ là một tiếng kêu phẫn nộ. Nghĩ cho cùng, không phẫn nộ sao được trước cái tinh thần chủ bại, ươn hèn và đốn mạt kia? Có một điều chính yếu đáng nói, nay chúng tôi đã thẳng thắn giải bày mọi nỗi, không than van, oán trách. Đứng ở khía cạnh ấy mà xét thì mọi thứ, - sự đàn áp dã man, những lời nói dối, phỉnh phờ, bỉ ổi của nhà cầm quyền. sự hèn nhát dễ hiểu của quý vị, những lời tuyên bố và cử chỉ huênh hoang của quý vị, - và tất cả những thứ ấy, xét cho cùng, đã trở nên xa xôi và như bọt nổi mà thôi.
Còn đối với chúng tôi ngày nay, chúng tôi đã hiểu chắc được một điều, là quyết tâm không để cho những hạng người như quý vị, - vì sự phản bội của họ, nhất là sự phản bội đối với chính họ, - có thể làm cho chúng tôi mất hết lòng tin vào những người khác. Họ sẽ được lợi lạc quá nhiều, nếu để họ diệt nổi được trong lòng chúng tôi niềm tin ấy ở người đồng loại. Nỗi khoái trá đó, kính thưa quý vị Giáo sư khả kính, chúng tôi sẽ không bao giờ để cho hạng người ấy có được.
Không bao giờ.
Những nam nữ sinh viên yêu nước
         và đang đau khổ.



Thứ Tư, 31 tháng 10, 2012

VIẾT VỀ MỘT CHUYẾN BAY BỊ TRỂ


Chị gọi điện cho tôi bảo : Em đến chở chị về nhà em đi.
Vội vã thu xếp vệ sinh trong nhà vì hai mẹ con chuyên đi chơi, không chịu ở nhà để quét dọn. Cũng vừa từ phi trường về. Ông anh quên xem ngày về nên đáng lẽ về Mỹ ngày hôm qua mà ông tưởng hôm nay nên phải chờ đến khuya mới có máy bay. Trể máy bay vì không chịu xem ngày tháng. Thế là bà chị dâu giận. Con trai về Saigon cưới vợ. Cả nhà đều về VN để dự đám cưới. hai cặp vợ chồng, anh cả và em gái đã đi rồi. Chỉ còn ông bà và 2 vợ chồng thằng con vừa mới cưới.
Lỗi tại ông không xem kỷ ngày về nên bà vợ càu nhào quá, vừa tốn tiền , vừa trể nải công việc ở nhà bên Mỹ, trể ngày đi làm, thất hẹn với con gái (vừa ở VN về, vợ chồng con gái phải đi công tác  nên nhờ bố coi sóc hai cháu, chỉ đưa cháu đi học thôi vì bố đã nghỉ hưu). Thế là ông anh mình chịu trận, không biết phải xin lỗi ai …”lỗi tại tôi mọi đàng…”
Bà chị dâu không ngồi được phía sau xe máy. Chiếc xe máy cà tàng. Gởi tại trường đang làm việc để đi taxi về với bà ấy. Ngồi kể lể đại ý :
Vì là người của hai miến khác nhau, bà ấy người Huế với những bà con, họ hàng vọng tộc nên trên dưới theo tôn ti, không dám bỏ kỷ cương, gọi tất cả mọi người là anh, là chị, là cậu, là mợ,…lịch sự tối đa; còn ông anh mình người miền Nam ai cũng thằng, cũng con…dù rằng không có ác ý gì, nhưng, với gia tộc của họ nghe chói tai…
Chị ấy lúc nào cũng làu bàu về việc này nên ông ấy muốn bỏ nhà đi, chỉ muốn ở trong chùa tu hành. Bà chị không hiểu ý, phản đối, ông anh càng chán thứ kỷ cương đó nên phản ứng mạnh hơn.
Từ đó chị ấy phán quyết cho các con không được lấy người ở giai cấp thấp hơn ( ngồi nghe mà buồn cười, chị ấy đang nói chuyện với em chồng, nhưng cũng chẳng nói gì vì mình cũng chán ngấy…họ hang đây)
Chị ấy đã từng khóc sướt mướt trên xe cả đoạn đường trên 200km mà ông anh cũng không lay chuyển gì. Dứt khoác không sửa đổi quan điểm, cách sống (trời, sống không hạnh phúc thế thì sống làm gì. Già rồi phải tự tạo hạnh phúc chứ)
Có nghĩa là chị ấy càng mạ lỵ gia đình chồng thì anh ấy càng tỏ ra chai lỳ, sơ cứng, càng muốn vào chùa tu, càng muốn sống khác với chị ấy…
Đó là về quan điểm sống
Về con cái, chị ấy là người làm khổ con trai vì “môn đăng hộ đối”, thằng con (về VN cưới vợ hôm nay), đã 40 tuổi, chán nản mẹ mình, sống riêng ở một tiểu bang khác, lập nhà riêng, sống cho thoải mái…
Có lẽ sự xung đột của 2 vợ chồng ông anh làm chúng nó cũng chán. Về VN chúng nó cùng đi chơi với nhau, không rủ bố mẹ cùng đi.
Về việc em trai của chị ấy được chị ấy bảo lãnh qua Mỹ, ông anh không đồng ý> Đuổi ngay lập tức sau khi cho ở chung 3 tháng (chẳng biết ông ấy nghĩ gì !!!), nhưng có một lý do là nhà của ông ấy chưa trả nợ xong, ông ấy đòi người này cho mượn tiền, nhưng chị dâu không đồng ý, thế là theo kiểu Mỹ…đuổi đi. (chán ông anh này thật)
Gia đình người em này cũng có thời gian sống khổ, nhưng sau 5 năm đã có cuộc sống ổn định, con cái học hành cũng được, chỉ cần vài năm nữa , đời sống sẽ khá hơn…
Chi dâu than vản về sự đối xử không lịch sự của ông anh. Ngồi nghe buồn cười. Hỏi;
THẾ NGÀY TRƯỚC, CHỊ CŨNG BIẾT GIA ĐÌNH ANH ẤY NHƯ THẾ, TẠI SAO CHỊ YÊU VÀ CHÍNH GIA ĐÌNH CHỊ THÚC GIỤC BÊN ĐÂY CƯỚI KIA MÀ !!!
Chị không nghĩ, khi ở VN anh ấy cũng có chức phận, tự nhiên qua mỹ, rửa chén làm công nhân, nên bị mặc cảm, không hài lòng bản thân, ở tại nhà em anh ấy đã chép miệng: qua Mỹ chi chho lỡ thầy lỡ thợ…Tâm lý là như thế, chị phải cảm thong, cái kiểu anh ấy thích “vun tay” để người khác khen tặng. ( chị dâu bảo có lần anh ấy tình nguyện cúng chùa 500USD trong khi con gái không có tiền đóng tiền học, chỉ để được khen) Anh ấy đòi đổi xe, mu axe trang bị giống như một căn nhà để đi đây đi đó cho vui.
Anh ấy sống và nói với các em các cháu của anh ấy cũng thế. Cũng cộc lốc, thô tục, cũng con này, thằng kia,…chớ có hơn gì ai. Chúng tôi cùng đi với anh chị để người ngoài không nhìn vào thấy gia đình chia rẻ, chớ trong lòng cũng không vui, nhưng anh ấy là anh cả kia mà…Dù chán thế nào cũng ráng chịu đựng. Nếu anh ấy về VN chúng tôi không thăm hỏi thì anh ấy sẽ cho là chúng tôi không hiểu biết, không có tình thân an hem. Nếu chúng tôi thăm hỏi thì bảo chúng tôi muốn lợi dụng gì đó, chán lắm. Anh ấy cũng thích mắng tưới tát vào mặt chúng tôi, mặc dù tôi cũng có địa vị trong xã hội. Thế đấy, tại tính nết anh ấy thế. Để tôi kể cho chị nghe một câu chuyện mà tôi nhớ mãi. Hồi anh ấy còn đi học, có một ngày, hình như anh ấy mời các bạn của anh ấy đải tiệc gì đó tại nhà. Mẹ tôi đã bỏ cả ngày để làm thức ăn cho các bạn của anh ấy, đến khi tiệc tàn, những bạn của anh ấy đòi chào má tôi trước khi về, anh ấy xua tay bảo thôi khỏi. bà má khóc ngất lên : nó khinh tao không đáng làm má nó !!!
Thế đấy. bạn bè tôi, bạn bè các chị tôi đến nhà, chào anh ấy, anh ấy không thèm chào lại…Từ xưa anh ấy đã như thế rồi…Bây giờ về quê, anh ấy thích chào ai thì chào, không thì thôi, chẳng cần lịch sự , xã giao gì hết. Mặc người khác nghĩ gì cũng được…Anh ấy tự sống, không lịch sự ngoài mặt cũng như trong lòng…
Nói gì, giận gì cho mệt mỏi.
Bây giờ có ba thái độ: hoặc chị về ly dị sống như tôi cho khỏe. Hoặc chị sống ly thân như kiểu ở chung cư. Hoặc chị chấp nhận anh ấy, cảm thông với anh ấy để hạnh phúc cuối đời. thế thôi. Đừng càu nhào nhau. Đừng quát mắng giận hờn nhau…Hãy để anh ấy muốn làm gì thì làm…Tự do. Chị cũng lo cho chị thoải mái đầu óc, không buồn phiền…
Hãy coi việc trể chuyến bay này như một chuyện vui. Nếu không, làm gì có việc chị ngồi thoải mái nói chuyện như thế này. Trút ra hết để đở ấm ức trong lòng. Cảm thông nhau hơn hay không ? Không biết. Nhưng giải tỏa ấm ức trong lòng.
Một đôi khi tôi cũng thích sống tự do một mình. Anh ấy cũng thế. Anh ấy cũng thích sống tự do một mình, một đôi khi

Khộng biết cuộc trò chuyện này tác dụng như thế nào, nhưng ông Anh hai năm nay không thèm hỏi thăm các em gái ở VN. Kể cả việc cúng giổ ông Bố. Thôi kệ, có lẽ bà chị dâu nhân đó đay nghiến ông ấy nhiều hơn nếu bà ấy hiểu lệch lạc những lời khuyên.

Thứ Sáu, 11 tháng 5, 2012

CŨNG LÀ MẸ...


Tôi có một bà mẹ chồng. Bà Tư. Tôi gọi như vậy vì chồng tôi cũng gọi bà là bà Tư. Tôi không biết chồng tôi đã gọi người sanh ra anh ấy là bà Tư từ lúc nào, chỉ biết khi tôi quen anh ấy, thì được giới thiệu “ bà Tư là mẹ ruột của anh !”
Mười bảy tuổi tôi quen anh. Anh lớn hơn tôi mười tuổi, có sự nghiệp, không lớn lắm, nhưng đó là người đàn ông từng trãi, có vị trí trong xã hội. Lúc đó, về gia đình anh ấy, tôi biết một cách lơ mơ. Không chú ý nhiều, vì tôi còn trẻ quá, chỉ biết yêu anh; và cũng vì anh tự lập quá, không lệ thuộc gia đình.Sống tự do. Chỉ nhớ rằng, vài lần tôi đến thăm anh, có một bà lớn tuổi, vóc người nhỏ nhắn, hoạt bát, nhanh nhẹn, đi tới lui thu dọn phòng cuả anh ấy, mang thật nhiều trái cây, quà bánh đến, vui vẽ mời tôi : “ cháu ăn cho vui !”.
Anh và tôi thản nhiên ngồi “ chén “ hết mọi thứ trên bàn, để bà làm việc.
Tôi vô tâm đến mức nhìn bà Tư giặt giũ quần áo của anh ấy; có khi bà nấu cho chúng tôi ăn. Tôi không phụ giúp gì. Anh ấy cũng không bảo tôi giúp đở bà Tư. Phần tôi thì e dè, chưa dám thú nhận tình cảm của mình với người trong gia đình anh ấy…Thế là chúng tôi cứ líu ríu nói chuyện linh tinh về văn học nghệ thuật. Vừa ăn quà của bà Tư, anh ấy vừa thuyết phục tôi về một vấn đề nào đó, khoe một bài thơ, hay một bài xã luận của anh đăng báo.
Lúc đó, bà Tư nhìn tôi như một người bạn của con trai bà. Không phân biệt nam,nữ, chỉ biết con trai bà vui vì có bạn. Bà mong con trai bà có vợ không? Hình như có. Nhưng bà không xen vào chuyện đó. Cô nào cũng được , miễn nó ưng là bà chịu liền, cho có người cột chân, cột cẳng và chăm sóc con trai bà.
Tôi không nhớ trong khoảng thời gian chúng tôi yêu nhau, tôi đã mua hay tặng bà vật gì, hay mua riêng cho bà một thức ăn nào, trái cây nào bà thích. Tôi chỉ nhớ, tôi đã ăn ké quà của bà cho con trai không kể xiết: mùa chôm chôm, có chôm chôm, mùa xoài ,bà mua xoài, nhãn, sầu riêng, mãng cầu, bánh ngọt, khoai ,…nghĩa là đủ thứ ở chợ có bán , mỗi khi bà đến thăm anh ấy. Bà mang đến, và tôi được ăn, nếu tôi có mặt, còn không, anh để dành cho tôi.
Thuở ấy, bà Tư làm nghề bán cẩm thạch. Bà mang đến khoe với anh, bà đã mua những chiếc vòng cẩm thạch giá rẻ, những chiếc nhẫn ngọc bích, những mặt dây chuyền hình trái tim, hình đức Phật … Thế là anh ấy xin, (nếu lúc đó bà có tiền), hoặc gởi lại nửa vốn (nếu bà nói hết tiền), và để dành … tặng tôi. Đôi khi bà bắt gặp tôi đeo nó, chiếc nhẫn bằng ngọc bích, chiếc vòng xinh xắn có màu xanh biếc, bà giả vờ không nhận ra. Có lẽ bà sợ tôi e ngại, nhưng tôi bắt gặp ánh mắt tinh quái của bà nhìn anh ấy cảm thông. Cứ nhớ nụ cười chúm chím của anh khi thấy ánh mắt đó, và thái độ giả lãng nói chuyện khác của anh,…lòng tôi ngập tràn vừa hạnh phúc, vừa xấu hổ.
Tôi sống ngụp lặn trong tình yêu, tình yêu của hai người, một người đàn ông và một bà mẹ tinh tế hiểu biết, cả quãng đời son trẻ của mình.
Sau ngày thống nhất, tôi xách quần áo về nhà bà Tư ở, không cưới hỏi, không tuyên hôn. Gia đình tôi phản đối, bạn bè tôi dè bỉu. Nhưng, lúc này, anh ấy nghèo rồi, bà Tư cũng nghèo rồi, và cả ba, bà Tư, anh ấy và tôi đều chỉ chuộng tấm lòng chứ không chuộng tờ khế ước mà xã hội qui định.
Hai mươi tư tuổi, tôi vẫn là trẻ con, vì được che chở trong vòng tay của anh. Anh lo cho tôi mọi thứ. Nuôi tôi đi học đại học, sắm từng món nữ trang, chăm chút cho quần áo, sách vở, cả về mặt tư tưởng… Tôi như cái bóng của anh . Anh trao vào tay tôi những ước mơ của anh, và, như thế, cả gia đình anh không ai có thể “đụng“vào tôi. Khi nhận tình yêu của anh, tôi quên mất người thân chung quanh, cả người thân của tôi lẫn người thân của anh. Tôi sống lặn hụp trong tình yêu đó, và chỉ biết anh là duy nhất trên đời.
Tôi quên cả chính tôi. Mọi thứ cho anh. Tôi quên cả bà Tư, vì bà Tư cũng chỉ biết có anh ấy. Tôi chưa bao giờ nhớ rằng tôi đã nhắc nhở chồng tôi hay bản thân tôi mua một món quà nào gởi tặng bà Tư sau những chuyến đi xa, và cũng chẳng có những món quà trong dịp lễ, tết. Tôi đã từng xin tiền bà Tư, nhưng không nhớ mình đã gửi bà tiền lần nào chưa…?!!!
Tôi cứ vô tâm, chồng tôi cứ vô tâm cho đến ngày chồng tôi mất… và cho đến ngày bà Tư mất.
Tôi không nhớ bà Tư đã có bao giờ trách chúng tôi điều này, nhưng hình như bà cho rằng đó là điều tự nhiên, tự nhiên như “ nước mắt chảy xuống “. Không đòi trả ơn, hay không thèm đòi hỏi gì hơn ở những đứa con đã tự mãn khi thành đạt. Bà không đòi tôi một bổn phận, một trách nhiệm nào đối với bà. Bà chỉ muốn tôi mang niềm vui đến cho con bà.
Chỉ riêng tôi là một người dâu không được bà Tư dạy buôn bán, tuy rằng sau nầy, khi chồng tôi mất, tôi đã áp dụng rất nhiều nghệ thuật buôn bán của bà mà tôi học lóm được trong khoảng thời gian dài sống trong gia đình chồng.
        Các cô con dâu khác của bà đều phải đi theo bà buôn bán tại chợ. Bà tạo dựng cho từng người “ để nó có tiền giúp đỡ chồng nó”, bà gây vốn cho từng đứa, “ để chúng nó tự lập”. Bà thương dâu như thương con gái. Tôi cứ nghĩ như vậy vì chồng tôi không có chị em gái. Quay trước, ngó sau, bà có bốn con trai và một ông chồng. Đơn thân độc mã trong gia đình toàn đàn ông, nên bà quý các cô dâu lắm. Không biết nếu bà có con gái, bà sẽ thương nó như thế nào, nhưng bà Tư lo cho con dâu thì … trên cả tuyệt vời. Cho nó vốn, tìm cho nó việc làm. Nó thất bại, gây dựng lại cái khác. Chắt chiu, gom góp mua cho vợ chồng chú Tư căn nhà. Vợ chú Tư làm đầu thảo hui, hụi vỡ, bán nhà. Bà giúp cho mua căn nhà nhỏ hơn, lại vỡ hụi, rồi …quay về sống với bà. Căn nhà nhỏ chứa vợ chồng đứa cháu nội, con người trai cả . Bố nó mất lúc nó ba tuổi, mẹ nó lấy chồng khác, đem về cho ông bà nội nuôi…
         Tôi biết rằng mẹ chồng tôi thương tôi vì tôi thương chồng tôi. Khi chồng tôi mất, bà là người phản đối gia đình khi họ đề nghị tôi trở về nhà tôi để giành lại căn phòng của chúng tôi. Bà đã bênh tôi và là người chảy nước mắt nhìn sự đau khổ của tôi. Tôi không biết có sống được hay không, nếu không có bà sau khi chồng tôi mất.
        Tôi thật sự cô đơn. Mẹ tôi đã mất. Gia đình tôi đã không đồng ý khi tôi về nhà anh ấy, nên tôi không muốn trở lại gia đình. Chỉ có bà Tư bên cạnh. Hai người chở nhau, lang thang đi tìm thuê nhà để tôi được yên ổn sống. Hơn một năm, cuối cùng tôi phải quay về, sửa lại căn nhà được thừa tự và làm việc, gây dựng lại mọi thứ. Sống một mình trong căn nhà rộng thênh thang, tôi năn nỉ bà ở lại với tôi, nhưng, bà còn “ tụi nhỏ”; cái “ tụi nhỏ” đã sắp làm ông bà nội, bà ngoại, vẫn còn vướng víu quanh chân bà.
       Nếu mẹ tôi còn sống, mẹ cũng thương tôi, nhưng không chia xẻ hết nỗi đau của tôi. Tôi và bà Tư, hai người cùng yêu một người đàn ông, và cùng một nỗi đau xé lòng khi người đó nằm xuống. Tôi biết bà đã rất thương chồng tôi. Bà chịu đựng chồng tôi đủ mọi chuyện, những cơn bực tức, những ước muốn lập dị của anh …Chồng tôi đã trưởng thành mà vẫn còn “ nũng nịu ” với mẹ. Có khi tôi nghe anh quát lại bà, nếu bà tỏ ra tình cảm quá trong công việc nào đó. Cũng có khi tôi bắt gặp nét mặt sung sướng, ánh mắt rạng ngời của bà ngồi phía sau xe chồng tôi. Nét mặt tự mãn của một bà mẹ sung sướng vì đứa con của mình thành đạt và đang dang lưng, dang tay chở che cho mình.
         Có khi tôi có cảm tưởng bà Tư lặng ngắm chồng tôi với niềm hạnh phúc tự hào. Người đàn ông đẹp trai, hoạt bát, tinh tế kia lại là con trai của bà. Đó là máu, là thịt, là xương của bà, bà đã tạo tác ra. Đối với bà, chồng tôi là một tác phẩm hoàn hảo nhất, đã khiến đôi lúc bà ngỡ ngàng, ngạc nhiên … Con trai của bà được như thế này ư ! Hình như đó là của Tiên, của Phật, của Thánh Thần nào đó. Bà không dám xưng mẹ với chồng tôi. Thuở nhỏ, chồng tôi khó nuôi, bà mang ký gửi cho một nhà sư và vị này đã bảo bà phải xưng hô như thế, chồng tôi mới có thể sống lâu được. Để đến hôm nay, sự hy sinh cuả bà được đáp trả bằng hình hài khôi ngô kia, lúc nào cũng dang rộng tay che chở cho bà …
Nhưng, đứa con đã nằm xuống trước bà mẹ, không thể che chở cho mẹ được suốt đời… đã bỏ đi xa lơ, xa lắc, đi vĩnh viễn rồi …
Tôi không biết bà Tư đã thương tôi ở điểm nào ? Tôi về sống với bà với tính trẻ con, không hiểu biết … Bà không răn dạy tôi điều gì. Không nói ra, nhưng tôi nghĩ là, bà chỉ cần tôi yêu con bà, hy sinh cho con bà, tạo cho con bà hạnh phúc là…bà thương tôi. Thế thôi. Đơn giản thế thôi. Tôi biết thế, tôi cảm nhận được như thế.
        Khi đứng trước phòng mổ chờ ca mổ ung thư bao tử của bà, tôi chợt chạnh lòng, chợt biết rằng mình chỉ còn một người thân duy nhất. Người đó thông cảm tôi, hiểu biết tôi, và thương tôi không vụ lợi. Tôi không thể chia xẻ gì đuợc với mẹ chồng tôi nỗi đau thể xác cũng như tinh thần. Tôi đứng ngoài. Suốt đời tôi đứng ngoài nhìn bà Tư, có cảm thông nhưng không biết gì hay không biết làm gì để sớt chia nỗi đau của bà. Tôi bất lực nhìn bà oằn oại trong những cơn đau. Những người trong bệnh viện thấy tôi chăm sóc bà, cứ ngỡ tôi là con gái của bà. Họ hỏi tôi “ tại sao gọi là bà Tư ?” Tôi lặng thinh. Ngôn ngữ trần gian bất toàn để có thể giải thích những gì thuộc về tâm linh, cũng như nó không biểu tượng được gì hết nếu trong đó không có tấm lòng.
Tôi chưa bao giờ gọi bà Tư bằng Mẹ. Nhưng, tôi biết tôi thương bà như thương mẹ tôi. Có thể vì tôi yêu chồng tôi, nhưng, lớn hơn, cao hơn vì tôi cảm phục đức độ và tấm lòng của bà đối với tôi. Bà mẹ chồng đầy lòng vị tha…

DUYÊN PHẬN

đưa lên blog nhân ngày của mẹ 2012


Dì tôi kể về cuộc gặp gỡ giữa mẹ tôi và ba tôi hay nói đúng hơn việc mẹ tôi bị quăng vào vòng tay của ba tôi. Mẹ tôi bị vứt vào đó để cho bà ngoại tôi rãnh nợ, để bà ngoại tôi trả ơn người đã ủng hộ bà đi đánh ghen.
Dì nói, lúc đó ông ngoại đã mất. Nếu ông ngoại còn sống có lẽ ba tôi đã không lấy được mẹ tôi. Ông ngoại tôi là người Quảng Châu, lưu lạc đến Rạch Giá làm thợ kim hoàn. Ông là người khéo tay , tạo cơ nghiệp, cưới bà ngoại tôi , người Việt Nam để ổn định cuộc sống. Ông đã đưa con ruột và cháu ở Quảng Châu qua để lập nghiệp. Lúc nhỏ , mỗi năm tiết thanh minh, cả họ nhà tôi thường tổ chức viếng mộ ông rất lớn, tôi nghe mẹ tôi gọi hai người này là Sa Hia, Đìa Hia ( hình như là anh cả , anh hai gì đó ), Sa Hia là anh cùng cha khác mẹ với mẹ tôi. Người này cao lớn, lạnh lùng, hình như bà ngoại tôi vừa sợ vừa không thích. Ông Đìa Hia có vẽ tình cảm hơn, cũng hỏi thăm đám em cháu Việt Nam ân cần, còn giúp tìm việc cho chị Ba tôi trong hảng dệt Vimytex. Chị Ba tôi nói là trong công ty này, con trai của ông Đìa Hia làm lớn lắm, có uy tín nữa …
Lúc đó, không biết bà ngoại tôi nghe ai, hình như nghe ba tôi, một thanh niên sửa xe đạp dèm pha rằng ông ngoại tôi lăng nhăng với ai đó ở Rạch Giá, bà ngoại tôi đang ở Vĩnh Long tổ chức đánh ghen dưới sự tiếp tay của ba tôi. Mẹ tôi lúc đó đang học tiểu học ở Rạch Giá cùng với một người bạn gái, sau này mới biết người này là con gái của chồng cô tôi ( trời ơi ! lung tung lằng nhằng như thế !). Khi mẹ tôi về ở với ba tôi thì mẹ tôi được nâng chức là mợ của người này. Mẹ tôi khi còn sống, quí trọng người này lắm, làm công chức ngành giáo dục, sống độc thân, ốm yếu … lo lắng cho đám con riêng của bố, sau đó được học bổng đi Pháp … Có lẽ cũng để thoát cái đám em này, chỉ giúp đở từ xa, những người con của cô tôi, giòng họ với ba tôi.
Như thế, ông ngoại tôi ưu sầu mà chết, sau khi đã đưa vợ con về Quảng Châu một lần. Tôi tự hỏi, nếu lúc đó mẹ tôi ở lại với bà ngoại lớn thì sao nhỉ ? Cậu Hai, cậu ruột của tôi, bà ngoại lớn giữ lại nuôi, bây giờ đã thành danh, con trai cậu đang làm thứ trưởng bộ Giáo Dục ở bên ấy. Có lần anh Hai tôi ở Mỹ về, nói :
  • nếu có đi công tác nước ngoài, nghe tên ông này thì đến nhìn bà con.
Như thế thì tôi với ông này là anh em cô cậu ruột…
Mẹ tôi cho rằng khi ông ngoại tôi đưa đám con Việt Nam về Trung Quốc, ông ngoại tôi muốn giao cho bà ngoại lớn nuôi hết, nhưng mẹ tôi vì bị hen suyễn nặng quá, mà vùng đó thì quá lạnh , nên không thể ở lại được, để… cuộc đời mẹ tôi phải long đong thế này.
Có thể ông ngoại tôi cũng tiên liệu rằng với tánh nết bà ngoại tôi , một người vừa hung dữ, vừa cờ bạc suốt ngày như thế, thì nếu không có ông, bà sẽ phải …. bán các con gái mà thôi.
Bà ngoại tôi không bán các con gái (mẹ tôi và dì tôi), nhưng bà gã chồng đi , gã cho bất cứ người nào có thể giúp đở bà được.
Thế là ba tôi nhảy vào. Bà sướng rơn. Ba tôi, lúc đó, cao lớn, đẹp trai, đẹp như Tây, có một cửa hàng sửa xe, không nhậu nhẹt, nhưng bài bạc … nghiện cờ bạc giống như bà, và cũng đã từng là đồng minh của bà, nên bà ép mẹ tôi phải ưng ba tôi. Tôi biết tính mẹ tôi từ trước, nhúng nhường, cam chịu… Tôi không biết tại sao mẹ tôi lại sinh ra tôi, một đứa luôn phản kháng, luôn tìm cách vươn lên, luôn muốn hút đầu vào tường để chống bất công,… dù mọi người chung quanh can ngăn, thôi đừng làm nữa, chỉ thiệt thân,..Có thể tôi phản ứng vì tôi chán sự nhu nhược của mẹ tôi khi sống với ba tôi, nhớ đến những trận đòn ba tôi đánh mẹ tôi lúc chúng tôi còn nhỏ, tôi đã nghiến răng,… tôi thà chết còn hơn …
Mẹ tôi về sống với ba tôi, những năm đầu chắc cũng hạnh phúc … Anh Hai tôi ra đời … ba tôi cờ bạc phá sản… Nhưng, ba tôi, một người luôn làm nghề tự do cũng cố gắng xoay sở để nuôi vợ và bốn đứa con, cũng được dì tôi giúp đở ,.. lúc này dì tôi đã lấy một người Pháp , cũng để giúp bà ngoại tôi nuôi các em. Cuộc đời dì cũng khổ, cũng vì bà ngoại tôi, dì đã phải đem cho đứa con trai của một người yêu dì và không được sự đồng ý của bà ngoại vì người này nghèo quá… Tôi biết trong tận thâm tâm dì vẫn còn nhớ đứa con … suốt đời dì làm việc phúc việc đức cũng vì sự ân hận này…
Tôi không thể nhớ lúc nhỏ tôi như thế nào , nhưng khi hiểu biết thì tôi thấy nhà tôi nghèo, nghèo tơi tả giữa cái thủ đô Saigon đầy hoa lệ. Mẹ tôi là người phụ nữ an phận. Bà nhận may vá cho hàng xóm những khi không bị bệnh. Cơn hen suyễn suốt năm này qua năm kia, thêm một đứa con gái cũng yếu đuối như thế. Cứ mỗi lần gần Tết trời trở lạnh là mẹ tôi hoặc chị Tư tôi vào bệnh viện. Vào bệnh viện và không có tiền trả viện phí, có khi hết bệnh rồi vẫn không về nhà vì chờ ba tôi đem tiền về. May mắn là tôi lúc đó còn nhỏ, nên vô tâm, vô lo, chỉ đi học về đón xe bus vào bệnh viện nuôi mẹ, nuôi chị. Mà có nuôi cái đâu. Chỉ ngồi đó canh chừng, nếu mẹ hay chị lên cơn thì gọi y tá hay bác sĩ,..Bệnh trường kỳ, kinh niên như thế, mẹ tôi bất lực nhìn ba tôi lập phòng nhì ở Đà Lạt.
Ba tôi nói công khai : nếu mày không chịu thì tao bắt thằng lớn, mầy nuôi mấy đứa con gái cho lũ mày … đi ăn mày, ăn xin , chết đói,…
Ông thoải mái sống với hai bà vợ. Một ở Saigon, một ở Đà Lạt , vì ông chạy xe khách tuyến đường Đà Lạt-Sài Gòn. Nhà cả hai bà đều là nhà mướn. Ở Đà Lạt, ông đi thâu đêm suốt sáng trong cuộc đỏ đen. Mê muội trong bài bạc. Mê muội trong việc mua vé số. Đời ông sẽ khá hơn nếu không có hai cơn mê này. Cách đây một năm dì tôi từ Pháp về , xuống Sóc Trăng thăm ông đã khóc sướt mướt vì thấy ông đã đắp y khất thực đang sống trong chùa. Thời oanh liệt vàng son kinh hoàng bài bạc của ông … đã rủ bỏ rồi. Không ai nghĩ hậu vận của ông là thế…
Nhưng, khi nhớ đến mẹ tôi, tôi vẫn không thể không … hờn ông được !
Ba tôi có vợ bé, những người chung quanh coi việc đó là việc tự nhiên. Đấy mới là vấn đề. Không ai bênh mẹ tôi một tiếng. Họ cho rằng lỗi ở mẹ tôi cứ bệnh hoan như thế… làm sao mà giữ ông chồng được ?
Hàng xóm không dám chen vào. Chen vào ba tôi chửi thục mạng. Ba tôi chửi thề ghê gớm, hung dữ có hạng, sẳn sàng cầm dao dí vào mũi ai đụng đến quyền lợi của ông ,… dù rằng ông cũng sống với láng giềng tận tình. Mỗi năm, gần Tết, ông chở cả xe nào bắp cải, su su, khoai tây, carotte, … kể cả thứ cao cấp là bông atisô … về tặng cho hơn vài chục hộ chung quanh nhà. Ông đã từng xông vào chửa cháy cho nhà hàng xóm vì trẻ con thẩy lửa vào bình xăng… có nghĩa ông là người tốt bụng của xã hội, ông cũng không nghiệt ngã với con cái, nhưng ông phây phây chà đạp lên lòng tự trọng của mẹ tôi…
Gia đình bên ba tôi ủng hộ ông hết mình… họ gọi người đàn bà kia là “mợ hai” thân thiết, chứa chấp, giúp đở,…kể cả bênh vực…
Tôi nhớ mẹ tôi, nỗi khổ không thể kể với ai, con cái thì còn nhỏ không thể tâm sự được…Chỉ nhớ lúc nhỏ, khi mẹ đi đâu mẹ thường dắt tôi đi theo. Buồn quá, buổi tối mẹ bảo tôi học bài nhanh rồi hai mẹ con đi coi cải lương trong Giải trí Trường ở gần nhà . Cái Giải trí trường này đã vào lịch sử vì sự kiện xập cầu khi bà Ngô đình Nhu khánh thành. Nơi đó có những trò chơi cho trẻ con, có những gánh hát cải lương coi không mất tiền, có những ban nhạc, những khu vực chiếu phim,… Mẹ tôi buồn , vì khủng hoảng tinh thần quá đến mức không thể may vá gì được nữa, nên đi vào đây ngồi chơi… Bà không đi một mình, bà dắt tôi theo ,…do đó tôi đã từng xem Bo Bo Hoàng lúc còn nhỏ đóng vai người hầu của Lê Long Đỉnh , cứ nhớ giọng hét của Hoàng Giang : “ bo bo…. đấm bóp ” là tôi phì cười... Điều này cũng khiến cho mẹ tôi bị nhóm bà con bên chồng xỏ xiên: nó sướng quá mà, không cần kiếm ra tiền, muốn đi chơi thì đi,…
Có một lần, mẹ tôi dắt tôi đi Quang Trung đến nhà một người con dâu của bà hàng xóm. Hai người nói nhỏ nhỏ cái gì đó, rồi người này dẫn hai mẹ con tôi đến một căn nhà um tùm cây cối. Mẹ tôi bảo tôi ngồi ngoài sân, cũng có một vài người đàn bà đang chờ tới lượt mình. Tôi lén ngó vào nhà thì thấy, trong căn phòng nhỏ có tùm lum trang thờ, nhiều tượng quá tôi đếm không hết, tượng nào cũng sơn đỏ chót, khói nhang lên từng đám như sắp cháy nhà, có người đàn bà trùm khăn đỏ nói nói gì đó với mẹ tôi, mẹ tôi khóc sướt mướt,…
Khi về, bà có vẽ thoải mái hơn, không còn căn thẳng như lúc đi…
Ba tôi thường lệ cứ hai ngày thì về nhà một lần, về buổi tối, vì ông lái xe từ Đà lạt lúc sáng sớm, về Saigon cũng đã chập tối rồi,… và ông thường ăn cơm một mình. Mẹ tôi nấu những món ăn ông thích. Tối hôm đó bà nấu cho ông ăn canh cải bẹ xanh nấu với gừng và đập vào đấy một trứng vịt, tôi nghe ông nói : Sao canh hôm nay đắng đắng như thế nào ấy . Mẹ tôi lặng thinh. Việc ông chê cơm chê cá là chuyện xảy ra thông thường nên chúng tôi cũng không để ý. Tuy nhiên, tôi thấy bà cho ông ăn canh cải bẹ xanh liên tục. Có ngày, tối tôi cũng đói bụng, tôi đòi ăn chung với ông và tôi thấy canh … có mùi vị gì kỳ kỳ thật…
Con dâu của người hàng xóm về thăm gia đình chồng thậm thò ở cửa. Mẹ tôi ra. Bà này hỏi : Sao, có tác dụng gì không ? Mẹ tôi nói : một tháng nay … đở khổ.
Đến khi anh tôi cũng phát hiện có mùi lạ trong tô canh cải xanh, nhưng vô tư,… chúng tôi không biết.
Rồi đến một tối nọ, mâm cơm bay xuống đất . Ba tôi hét lên : bà bỏ cái gì vào tô canh đây . Mẹ tôi nín thinh… thì ra người bà con của ba tôi phát hiện mẹ tôi vì muốn ba tôi trở lại với chúng tôi nên tìm thầy “ cho…phép ”, để ba tôi … hồi tâm ; người này mách với ba tôi, và ba tôi náo loạn gia cang.
Ông bỏ đi chừng mươi ngày… sau đó trở về với hai đứa con trai. Trời ! tôi chỉ biết ông có một đứa con trai với bà kia thôi ( vì họ đã dắt về nhà, chào họ hàng ), nhưng không ngờ có thêm một thằng nữa.
Ông năn nĩ mẹ tôi nuôi chúng, vì… mẹ nó là con đĩ,… ông nói với mẹ tôi thế.
Nhà tôi có thêm hai thành viên. Ba tôi về nhà vui vẽ hơn, đưa tiền cho mẹ tôi nhiều hơn, mang bánh trái quà cáp cho chúng tôi nhiều hơn. Một tuần sau, mẹ tôi cậy cục xin cho chúng nó vào học trường gần nhà … và tôi, có bổn phận dạy chúng nó học vì chúng nó mất căn bản trầm trọng… Ba tôi năn nĩ chúng tôi thương tụi nó vì … tụi nó nghỉ học liên tục theo sự vui buồn của mẹ chúng nó…
Được gần một năm, thì người đàn bà kia xuất hiện, thập thò ở cổng trường, và dẫn chúng nó đi mất… Tối đó, ba tôi về, không nói gì chỉ bảo mẹ tôi bỏ đồ đạc chúng nó vào bao rồi sáng hôm sau ông mang đi. Tôi thấy khoảng thời gian có chúng nó ở nhà tôi, mẹ tôi không vui không buồn, nhưng thanh thản, … có lẽ bà muốn nuôi chúng nó để ông dứt khoác với người đàn bà kia … Bà cũng không có thái độ nào ghét hay mĩa mai chúng nó, bà cho chúng nó ăn giống như chúng tôi, mua sắm cho chúng nó cũng như chúng tôi, lo cho chúng nó đi học cũng như chúng tôi, …Thú thật lúc đó tôi chịu không nỗi, đôi khi tôi cũng nói nặng chúng, đôi khi tôi cũng nói chúng : mày ngu như … mẹ mày, vì chúng học… dỡ quá.
Cứ như thế, một năm sau, ông lại dắt hai đứa về cho mẹ tôi nuôi. Ông nói với chúng : Ở với má lớn được đi học.
Tôi ngồi nghe, tức anh ách : Chẳng biết chúng nó có thích đi học không. Có lẽ không khí học tập, qui cũ của nhà tôi làm chúng nó phải vào khuôn khỗ. Một vài lần tôi bắt gặp chúng nó chơi đánh bài, xào bài rất thiện nghệ. Tôi lấy bộ bài cào ném vào lò và mắng chúng nó một trận để trút giận : Trời ơi, cái nhà này đã tan nát, nghèo mạt vì bài bạc rồi mà còn tính gầy sòng trong nhà nữa. Anh tôi không nói gì, có lẽ anh chán quá ! chỉ vì tôi còn con nít nên tôi phản ứng. Hai chị tôi chỉ muốn nhà yên ổn. Đúng thôi, có chúng nó ở nhà thì nhà tôi yên ổn , ba tôi chẳng chê bai gì mẹ tôi nữa, và ông có vẽ chìu chuộng, chăm sóc chúng tôi hơn…
Tôi không hiểu mẹ tôi lúc đó nghĩ gì. Thú thật cho đến hôm nay, đã phải li dị bố con gái tôi vì không chịu được ông dây vướng với người khác khi còn chung sống. Tôi cũng sẽ không chịu đựng được như mẹ tôi… Có người trách tôi không hiểu mẹ. Nếu lúc đó mẹ tôi đồng ý ly dị hay gay gắt suốt ngày thì làm sao chúng tôi được ăn học cho đến ngày nay… Tôi muốn hỏi lại, thế thì tôi ôm con gái về nhà nuôi khôn lớn thế này có cần gì … thằng đàn ông phản bội kia không ?
Tôi đang không hiểu mẹ tôi có yêu ba tôi khi đồng ý kết hôn với ba tôi không ? Hay bị bà ngoại tôi ép buộc ? Tôi chỉ biết bà chịu đựng ông nhiều quá. Bà chịu đựng và hy sinh cho chồng con như thế có phải vì tình yêu hay không hay vì nghĩa vụ. Nếu vì tình yêu, thì bà sẽ thanh thản, nếu vì nghĩa vụ thì bà chấp nhận nó như thân phận một người phụ nữ được giáo dục theo kiểu Á Đông cũ … Tôi không phân tích được, vì bà không còn nữa …
Chỉ nhớ rằng, tôi cũng đã có rất nhiều lần cãi lại ba tôi, rất nhiều lần hai cha con xung đột nhau, … tôi đã giận không thèm nhìn ông nữa …. Nhưng, một giấc mơ mà mãi đến bây giờ tôi còn ám ảnh. Tôi mơ thấy mẹ tôi tìm một người lớn tuổi trong khu phố, học rộng, hiểu sâu, viết một bức thư nhân danh tôi xin lỗi ba tôi, và trong nước mắt bà đề nghị tôi ký tên …. Trong cơn mơ, tôi vẫn chưa thèm cầm bút …

  Ở NHÀ MỘT MÌNH ( Không giống phim ở nhà một mình của cậu bé 7 tuổi mà là bà già 70 tuổi ở nhà một mình để tránh virus Covid 19)   ...