Thứ Ba, 19 tháng 8, 2014

DÀN NHẠC GIAO HƯỞNG TRÊN MÂM CƠM
NGƯỜI DÂN TỊNH BIÊN
Th.S Nguyễn Hồng Cúc
(bài đã được đăng trên kỷ yếu hội thảo 175 năm thành lập Tịnh Biên-An Giang, tháng 8/2014)

                                                                          
Là một vùng nông nghiệp, tự nuôi sống mình bằng nghề trồng lúa từ xưa đến thập niên thứ hai của thế kỷ 21, người Tịnh Biên hiện đại vẫn ham muốn và bảo tồn bữa cơm gia đình của mình, dù rằng việc ăn uống hôm nay đã nhiều biến đổi theo thời gian. Cơ cấu bữa ăn Tịnh Biên hiện đại, hậu hiện đại – hậu, hậu hiện đại này vẫn mang đậm truyền thống văn hóa nông nghiệp lúa nước mà gạo là nông sản chính, vì thế, được gọi chung là bữa cơm.Và bữa cơm kiểu Việt Nam thuần hậu, ngon lành này đã chính là mối dây thân mật gắn kết nội bộ gia đình dân Tịnh Biên, cũng như gia đình và xã hội Việt Nam, từ truyền thống đến hiện đại…
Dân số huyện Tịnh Biên có hơn 113.000 người, trong đó dân tộc Việt chiếm tỷ lệ gần 70% còn lại là người Khmer, và người Hoa. Đó là một trong những nguyên nhân bửa cơm của cư dân Tịnh Biên là sự kết hợp hài hoà, sáng tạo của nhiều nền ẩm thực của các dân tộc khác nhau trở nên đa dạng và phong phú.
I.CÁC THỨC ĂN CƠ BẢN CỦA NGƯỜI KHMER
Thức ăn thông thường của người Khmer gần giống với ẩm thực Nam bộ. Các món num kanhchop (bún cà ri nước cốt dừa và cá lóc), samlo koco (một loại canh thập cẩm như kiểm), prohoc ling (mắm bò hóc chưng với thịt và nhiều gia vị)... là những món quốc túy của người Khmer. Các món kho của người Khmer du nhập vào ẩm thực  Việt nên chữ "kho" trở thành một động từ chỉ một cách chế biến món ăn của người Việt. Người Khmer thì không dùng nước mắm trong như người Việt mà dùng nước chấm từ cá được thủy phân theo cách riêng của họ gọi là prohoc. Prohoc được chế biến theo một qui trình công phu. Cá được rửa sạch, móc hết ruột để vài ngày cho hơi ươn rồi để vào chum xếp từng lớp cá. Một lớp cá thì có một lớp muối hột hay muối bọt. Sau đó ém thật chặt bằng một vĩ tre và đậy kỹ lưỡng tránh ruồi bọ. Nếu muốn mắm ngon hơn người ta thường cho vào chum nước đường thốt nốt pha loãng. Sau hơn 1 tháng thì có thể dùng được.
Khẩu vị của người Khmer là vị chua và vị cay. Vị chua chủ yếu được lấy từ trái me, lá me non hoặc cơm mẻ. Vị chua này được dùng trong món canh xiêm lo, món ăn có cách nấu rất công phu, phải dùng cá đồng nấu với rau ngổ, chuối cây và nêm thêm mắm prohoc thì mới đúng điệu. Đây là món canh được dùng rất phổ biến trong các phum sóc của người Khmer. Canh “Xiêm Lo” được nấu bằng cá lóc khứa thành từng miếng nhỏ, nấu chung với chuối Xiêm đã chín rục cộng với xả băm nhuyển. Canh được nêm bằng một ít mắm prohoc của người Khmer. Khi ăn món canh này thú vị nhất là gắp trái chuối trong nồi canh ra để riêng, cắt từng khoanh nhỏ ăn chung với cơm. Nước canh thấm vào bên trong trái chuối tạo nên một hương vị khó quên.
Cho đến ngày nay, các nhà nghiên cứu cũng chưa phân định được món canh chua của người Nam bộ là bắt nguồn từ món canh Xiêm lo của người Khmer này hay là do người Khmer bắt chước người Việt rồi chế biến theo đặc sản của vùng đất Khmer, mà sao nó gần giống nhau thế.
II.CÁC MÓN ĂN CƠ BẢN CỦA NGƯỜI HOA TRÊN VÙNG ĐẤT TỊNH BIÊN
Món ăn cơ bản của người Hoa là cải sa bấu.  Đó là loại củ cải trắng được muối mặn hoặc ngọt, được muối nguyên củ hoặc thái nhuyễn. Cải xa bấu nấu canh với thịt nạc bằm rất ngon, hoặc rim, xào với tôm thịt, ăn cơm hương vị rất đậm đà.
Cải được người Hoa chế biến nhiều loại, có loại sấy khô nguyên cây để hầm với thịt bò, thịt gà, thịt heo, có loại “cải hủ” dùng để nấu nước lèo vị rất ngọt, có loại củ cải, cải bẹ xanh, bẹ trắng muối để vô khạp, v.v.. Người Hoa thường ăn cơm hàng ngày với các món là mực hấp củ cải, dưa cải, bánh củ cải…
Các món ăn truyền thống của người Hoa Triều Châu là món cá mặn chưng với gừng và thịt heo ba rọi. Người ta làm cá mặn chưng thường cắt từng khúc cá, rửa sạch, cắt bỏ kỳ, vẩy (nếu có) rồi lấy cái tô sành lớn, cho cá mặn, thịt bằm, gừng xắt chỉ vào, rắc thêm chút bột ngọt, một chút xíu đường cát trắng, một muỗng cà phê tiêu sọ giã nhỏ vô rồi dùng đôi đũa trộn các thứ trong tô đều với nhau. Sau đó, rải lên hành lá xắt nhuyễn và củ hành tím xắt miếng mỏng, một nhúm ngò rí xắt nhỏ, một ít tiêu sọ giã, mấy lát ớt đỏ tươi, rưới lên chừng 2 muỗng canh mỡ nước hoặc dầu ăn, cuối cùng cho thêm một muỗng canh dấm đỏ rồi để vào nồi nước sôi chưng cách thủy. Cá mặn chưng gừng ăn với rau tập tàng, rau muống, đậu bắp, đậu rồng, đậu que luộc hoặc với dưa leo cũng rất ngon.
Người Hoa thay thế mắm Thái hay mắm lóc bằng cá sữu Biển Hồ được muối mặn về rửa sạch loại bỏ da chỉ lấy thịt bên trong mà họ gọi là món “Hàm dĩ chí dục tản” nghĩa là cá mặn bằm với thịt và hột vịt đem chưng. Đường thốt nốt, một đặc sản của An Giang được trộn vào tô mắm chưng thay cho đường cát trắng đã làm tăng thêm hương vị độc đáo của tô mắm chưng.
Các món canh của người Hoa thường dùng là: Canh hẹ nấu với bún tàu, tàu hủ trắng; canh cải bẹ xanh đập một trứng vịt và thêm chút gừng xắc lát,…Heo quay của người Hoa ăn với bánh bao không nhưn và nước tương thì người Việt dùng với bánh hỏi chấm nước mắm. Món canh chua của người Việt thường được nấu với các loại cá thì người Hoa lại nấu canh chua với gà.
III.VÀ TRÊN MÂM CƠM HÀNG NGÀY CỦA NGƯỜI VIỆT VÙNG TỊNH BIÊN
Người ta khó phân biệt được trên mâm cơm hàng ngày của người dân vùng Tịnh Biên món ăn nào của người Hoa, món ăn nào của người Khmer và món ăn nào thuần Việt. Có thể chỉ còn phân biệt được là chén nước mắm mà những người trong gia đình chấm chung với nhau vì gia đình người Hoa sẽ dùng nước tương hay xì dầu làm từ đậu nành và xương bò mà họ gọi là “tàu vị yểu” theo âm Hán Việt hay “Xì-Yếu” theo âm Quảng Đông, người Khmer sẽ dùng mắm prohoc. Nước mắm trên mâm cơm người Việt dùng để chấm với cá trong tô canh hay đồ xào.
Trong thực đơn của người Việt thường có 3 món cơ bản là: món canh, món mặn, món xào. Món canh thường là canh chua, nhưng cũng có thể là canh hẹ, canh cải xanh,… nấu theo hiểu người Hoa. Phụ nữ Việt cũng sẳn sàng nấu canh Xiêm lo cho chồng con ăn nhưng thay thế mắm bò hóc bằng một loại mắm đặc trưngViệt Nam.
Các món mặn thì ngoài các loại cá kho tộ như cá lóc, cá rô theo kiểu Việt Nam, thì còn có thịt kho tàu (nguồn gốc của người Hoa). Các bà nội trợ còn mua thịt heo quay về kho lại theo kiểu kho Việt Nam để các thành viên trong gia đình ăn với cơm, hoặc thích hơn thay vì thịt heo quay ăn với bánh bao không nhân (màng thầu) thì thêm một ít bánh hỏi tráng mở hành ăn với rau sống chấm nước mắm tỏi ớt chế biến vừa ăn, thế là vừa Việt vừa Hoa, rất ngon miệng.
Khi ăn cháo trắng, người Việt không chỉ ăn với hột vịt muối mà còn có dưa mắm và cá cơm, cá lòng tong kho khô và cháo thì nấu chung với lá dứa có mùi thơm đặc biệt… Hoặc món vịt tiềm của người Hoa thường được nấu với chanh muối nhưng lại được người Việt đem tiềm với cam.
Người Việt không chê món “hàm dĩ chí dục tản” cũng như món cá mặn chưng gừng với thịt ba rọi của người Hoa nhưng họ sẽ ăn kèm theo với dưa leo, vài món rau cùng với cơm
Một món ăn không thể thiếu trên mâm cơm của người Tịnh Biên là món mắm Thái hoặc mắm lóc trộn với thịt băm nhuyển. Sau đó đổ hột vịt đã đánh đều vào, thêm một ít gừng non và ớt lên mặt đem chưng khoảng 15-20 phút ăn kèm theo với dưa leo hay đậu rồng.
Món ăn từ mắm cũng có thể kể đến là món mắm và rau, nấu đơn giản và ít tốn tiền hơn món đặc sản lẫu mắm. Mắm và rau có nghĩa là gì?  Có nhiều người hiểu khác nhau nghĩa chữ "và" ở giữa hai chữ mắm, rau.  Chữ "và" ở đây không phải là một liên từ mà nó là một động từ, chỉ động tác của một sự việc.  Khi nói đến mắm và rau người ta hiểu ngay là mắm phải kho với thịt cá và nhiều thứ khác nữa chớ không thể là mắm sống, mắm chưng để vậy mà ăn với rau. Khi nấu nồi mắm này thường dùng các loại mắm rẻ tiền như mắm cá linh, mắm cá sặc,…Cho mắm vào nồi, đổ nước lã vừa ngập mắm bắt lên bếp, đun lửa vừa phải, đợi đến khi con mắm nát hết, nghĩa là chất mắm hòa tan vào nước, người ta hớt bọt kỹ trước khi lược mắm thật sạch không còn xương. Sau đó cho nước đã lược sạch xương mắm vào một cái nồi khác và thả vào vào đó tép, thịt ba rọi cắt mỏng,... nhất là không thể thiếu cà tím, và đun sôi cho chín.Ai cũng hiểu bất cứ món mắm chế biến cách nào cũng đều ăn với rau sống vì rau sống là linh hồn của các món mắm.  Nhưng món mắm và rau được đặt tên như thế là do cách ăn. Mỗi người ngồi tại mâm cơm, ngoài chén cơm còn có một chén riêng để bỏ rau, chan nước của nồi mắm và “và” rau cùng với nước của mắm kiểu như “và” cơm theo lối người miền tây Nam Bộ. Đây là một món ăn rẻ tiền của nông thôn nhưng sau đó trở thành một món đặc sản Việt Nam là lẫu mắm.

Quá trình cộng cư lâu dài giữa các dân tộc Việt, Hoa, Khmer trên vùng đất Nam bộ đặc biệt là khu vực An Giang-Tịnh Biên, đã khiến mọi mặt văn hóa hòa hợp và giao lưu lẫn nhau. Mỗi dân tộc, đã lưu giữ một nền văn hóa riêng của mình, đồng thời cũng đóng góp vào nền văn hóa chung của vùng đất mới làm cho văn hóa ẩm thực ở Nam bộ nói chung, vùng Tịnh Biên nói riêng có sự phong phú, đa dạng và nhiều màu sắc.
Trên mâm cơm cư dân Tịnh Biên các món ăn Việt – Hoa – Khmer được đặt gần nhau như những bản nhạc giao hưởng (symphony), một dạng sonata được sáng tác từ bàn tay sáng tạo của các bà nội trợ Việt để hòa âm thành một dàn nhạc, là các tác phẩm viết cho dàn nhạc giao hưởng ở các thành phần cấu trúc lớn nhỏ, đa dạng gồm các nhạc cụ chính: bộ dây (violin, viola, cello, contrabass), bộ gỗ (sáo, oboe, clarinet, bassoon), kèn đồng (trumpet, trombone, tuba, fagotte) và bộ gõ (trống nồi). Đó là cả một dàn nhạc giao hưởng được xem như một chủ thể thống nhất, không chia thành chính, phụ, đệm,.. Mâm cơm ấm cúng của gia đình người Tịnh Biên là một dàn nhạc giao hưởng mà món ăn của người Khmer, người Hoa, người Việt xuất hiện cùng lúc như một chủ thể thống nhất, không món nào chính, không món nào phụ, …hài hòa nhau, nương tựa nhau để giúp người dân vươn lên từ vùng đất thiêng Ba Chúc – Tịnh Biên. Cư dân Tịnh Biên đã cởi mở tấm lòng để trải nghiệm trong chuyện ăn uống đã làm cho người dân nơi đâycó một đời sống tinh thần thêm phong phú, rộng rãi hơn, không thành kiến, không gò bó trong những khuôn khổ chật hẹp, biết nhiều hơn, hiểu nhiều hơn và hòa hợp hơn của ba dân tộc Việt, Hoa và Khmer. Những trải nghiệm trong ẩm thực cũng chính là những trải nghiệm văn hóa bởi trong mỗi món ăn, nhứt là những món ăn lạ có nét tính cách, nét văn hóa, có bóng hình của những con người, những vùng đất. Mà văn hóa vốn dĩ chỉ có khác biệt chứ không có đúng - sai, xấu - tốt. Chỉ có cách nhận thức của chúng ta là có đúng sai thôi. Điều này đã phản ảnh trên mâm cơm của người Tịnh Biên, một dàn nhạc giao hưởng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.     Nguyễn Chí Bền, “Đặc sắc văn hóa từ các món ăn thảo dã của người Việt Nam ở Nam Bộ”, Kỷ yếu HNKH: “BSVNTAU”, 1997.
2.     Mai Khôi,Văn hóa ẩm thực Việt Nam - Các món ăn Miền Nam, nxb Thanh Niên, TPHCM, 2001
3.     Sơn Nam “thực chất và biến dạng của các món ăn Nam Bộ” Kỷ yếu HNKH: “bản sắc Việt Nam trong ăn uống”, 1997.
4.     Lâm Thanh Quang, Những món ăn trên mâm cơm của người dân vùng Tây Nam Bộ, bản đánh máy, 2014.
5.     Tâm Như, Ẩm thực dân tộc Khmer Nam bộ, http://canthopromotion.vn/

6.     Một trăm câu hỏi đáp về người Hoa ở Gia Định – Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Văn hóa Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2013

Thứ Bảy, 5 tháng 4, 2014

GIÓ NÚI

(bài này được đăng trên báo Thanh Niên chủ nhật 30/3/2014, với tựa NGHIỆP nhưng bỏ bớt nhiều. Nay đăng lại chính văn)

Gió bắt đầu về lúc chập tối. Ban đầu nhẹ nhàng, phe phẩy, vi vu,  đẩy hết cái nóng của ban ngày vào núi.  Nhưng càng về khuya gió càng mạnh, gầm thét, réo gọi. Năm cái võng lắt lư theo gió. Những người thành thị cứ tưởng bở. Lên núi bằng giày cao gót. May là có cáp treo. Ngồi trong cái thùng treo lơ lững, trôi từ từ lên núi, ca ngợi, nhờ có sản phẩm hiện đại của Mỹ, nếu không thì người già và con nít không thể lên núi viếng Phật được. Người trẻ leo núi cao thế này cũng ứ hự rồi. Nhờ có cáp treo, lên núi mà vẫn còn giữ được phong độ như người thành phố. Các bà, các cô vẫn jupe ngắn cũn cởn, giày cao gót mười phân, cười cười, nói nói…
Gió thổi phần phật vào năm cái võng giăng trong nhà tứ giác nhờ vào bốn cây cột đúc cốt thép, to bằng vòng tay của một người lớn. Bốn cái võng bằng vải dù được cột chặt bốn hướng, cái võng thứ năm là của chị lọt thỏm bên trong. Bốn người đàn ông nói ngày mai là 8 tháng 3, ưu tiên cho phụ nữ.
Thế mà gió không vị nể ai. Mọi sự mọi vật đều bình đẳng. Võng của chị lắt lư đong đưa còn hơn những cái võng khác, có thể vì chị nhẹ cân hơn họ. Lạnh. Gió mang theo cái lạnh cắt da của đá núi.
-         Sao anh chưa gắn cửa cho các phòng?
-         Cửa đã chạm trổ long lân, nhưng trẻ con phá quá, nên chưa gắn vào.
-         Thế anh định cho bá tánh chịu lạnh à!
-         Ừ! Để nếm mùi lạnh của núi.
Tay kiến trúc sư trả lời tỉnh bơ. Phái đoàn lên viếng chùa núi lần này là do người này mời. Các bác lên núi xem ngôi chùa mà tớ đã bỏ công xây dụng từ mười năm nay, sau mười bốn năm xin giấy phép. Chạy tới chạy lui, xuôi ngược, mới xin được sửa lại chùa. Ông kiến trúc sư này có cuộc đời cũng lạ. Phát nguyện đi tu từ năm 12 tuổi. Bố mẹ không cho. Trốn gia đình và chùa. Được đưa đi học từ chùa tổ ở Huế, chùa ở Quảng Nam, một ngôi chùa nhỏ ở quận 8, vào Già Lam tu học với thầy Trí Thủ vừa đi học kiến trúc, trong đời chỉ mê kiến trúc đình, đền, chùa, miếu. Lấy bằng tiến sĩ về kiến trúc Chùa và bây giờ lên núi đập đá để xây Chùa và tạc tượng Phật.
-         Nhưng, sao bây giờ chưa làm xong? Thiếu tiền à?
-         Không, thiếu nhân công. Những ê kíp thợ đến rồi đi, chịu đựng hơn một tháng là giỏi.
-         Có lẽ họ sợ gió núi. Tớ mới ở đây chưa đầy một đêm mà đã ngán rồi.
-         Thế mà tôi đã đi tới đi lui mười năm nay!
-         Tại nghiệp chướng ấy mà.
Cười.
Thú thật cũng chẳng thể hiểu nỗi cái người bạn kiến trúc sư này cũng như bà lão Sư Thầy trụ trì chùa núi. Bảy mươi hai tuổi. Hình ảnh đầu tiên mà chị gặp là một lão Ni cô hai ống quần cột bằng dây thung qua khỏi mắt cá chân, bộ quần áo nâu đầy bụi. Vừa tiếp chuyện đoàn Sử học, vừa đưa mắt nhìn chung quanh để đề nghị các nhóm đệ tử làm cái này cái nọ, vì ngày mai là lễ đắp y tượng Phật nằm, dài năm mươi mét ở lưng chừng núi, phía sau Chùa. Tất bật vì buổi ăn chiều cho các đoàn khách. Lo lắng, dẫn giải cho người đệ tử sắp xếp người rước Đại lão Hòa Thượng sẽ đến Chùa tối nay để sáng sớm mai chứng lễ. Một mặt tranh thủ kể lể với kiến trúc sư về những nhầm lẫn của toán thợ xây dựng và tạc tượng…Chị nhìn thấy bà chạy từ đầu này chùa đến đầu kia chùa, một ngôi chùa không có chiều sâu vì tựa vào vách núi, chỉ có chiều ngang, chiều ngang thì mênh mông, cả trăm mét. Bảy mươi hai tuổi, nhanh nhẹn, hoạt bát, tất bật…Không nghèo, sở hữu 20 hecta thanh long xuất khẩu, một diện tích rừng đang được cho phép khai phá với hàng  ngàn cây cổ thụ to bằng hai vòng tay người ôm không hết. Nhưng sao cực khổ thế kia? Anh bạn kiến trúc sư chép miệng: cũng là nghiệp. Nghiệp luật hay sứ mạng phải xây cho xong, xây cho đẹp, cho hoành tráng ngôi chùa đá trên núi Tà Cú này.
Ban đầu Bà Sư Thầy bảo vào phòng khách nghỉ ngơi. Phòng khách thiết kế khá tiện nghi, có cả toilette bên trong. Kiến trúc sư thành phố vẽ kia mà. Từ cái nắm cửa ra vào, đến robinet đều xịn . Đoàn này thích chí, ý kiến, ý cò với kiến trúc sư là xây Chùa xong một vài tháng nhóm Sử học sẽ họp hành trên đây, mở những salon de culture (những buổi nói chuyện thảo luận về văn hóa), thuyết giảng về Phật pháp, … sẽ làm cho ngôi Chùa ngoài kiến trúc độc đáo về nghệ thuật còn có tính chất trí tuệ. Chưa nói xong thì đã được mời đến ngự ở phòng tín đồ vì Đại lão Hòa Thượng không thể ở chung với người lạ nhất là có nữ lưu. Kiến trúc sư, đã từng là bạn học với Đại lão Hòa Thượng được phép ở lại, người này buồn ý ra ngủ với đoàn. Thế là có năm cái võng đung đưa trước gió.
Một vị vào bếp tìm nước sôi để uống café và trà. Tuần trà thứ nhất, thêm nhị tuần, đến bát tuần vẫn không thể làm cho bớt lạnh và ngủ được. Một vị trong đoàn khoe có nhiều tập thơ. Lại thơ. Nhớ một bài viết: hai đối cực là Toán và Thi ca đầy rẫy ở Việt Nam, và hai thứ này chỉ còn một bước là đến bệnh viện tâm thần. Cãi nhau.
-         Không có thi ca, văn nghệ làm sao mà cuộc đời vui được.
-         Nhưng nhiều quá, tưởng thơ Thánh, thơ Thần, thơ Tiên …còn cảm được. Toàn thơ Tục. Chán lắm.
Trong đoàn có 5 người thì đã có 3 người khoe biết làm thơ, nhưng những đứa con tinh thần này vẫn còn nằm trong…tủ vì chưa có tiền in. Nói qua nói lại để quên gió núi. Cũng chỉ mới 11 giờ. Anh kiến trúc nói trong gió:
-         Giờ này ở nhà tớ còn đang làm việc. Làm sao mà ngủ bây giờ được?
-         Thế thì những lần trước lên đây như thế nào?
-         Ngủ trong nhà khách của đại lão Hòa Thượng đang ngủ?
-         Cũng vì nghiệp luật ấy chứ.
Ngẫm nghĩ cái luật nhân quả của đạo Phật kinh khiếp thật. Nếu có những gì không thể giải thích được đều đổ thừa cho nghiệp luật. Với lý luận nào xác định những người xây chùa trên núi này không vì một thôi thúc vô hình nào đó, quyết tâm theo đuổi việc hoàn thành một kiến trúc ở cheo leo lưng chừng núi như thế này, trong khi họ đủ sức xây nhà với chăn ấm nệm êm. Các tín đồ viếng chùa, các chùa treo chót vót trên núi có bao giờ nhớ đến người nào đã xây chùa, ý kiến nào đầu tiên đúc những tượng Phật cao chót vót như thế. Họ đến vì thắng cảnh, vì sự linh thiêng của các tượng Phật mà quên mất ai là người đã tạc ra các tượng này. Gian khổ,nhọc nhằn giữa cái nắng chói chang ban ngày và gió rét của núi ban đêm…Đó không vì nghiệp luật thì là cái gì?
Mà cũng bởi cái nghiệp nào mà chị phải chịu cái lạnh cắt da khủng khiếp như thế này? Còn đại lão Hòa Thượng tại sao lên núi rồi mà vẫn sướng thế! Có lẽ cũng do nghiệp luật!

Đêm thật dài . Chỉ mong trời mau sáng.

Thứ Năm, 27 tháng 3, 2014

Về đại học tư bất vụ lợi

Tôi đã viết bình luận về bài này trên face của ông Giap Van Duong   http://www.thesaigontimes.vn/ nội dung như sau: Trước 1975, tại miền Nam VN có 16 trường đại học tư được thành lập. Đa số các đại học tư này đếu do các vị trong các tôn giáo quản lý và chủ trương hoàn toàn "Bất Vụ Lợi". Trong gần 20 năm (1957-1975), những trường đại học tư này tương đối thành công với chủ trương đó. Năm 1995, GS Ngô Gia Hy lập ĐH Hùng Vương cũng với chủ trương bất vụ lợi, sau đó trường này bị chiếm và ngày hôm nay tai tiếng vang dội trong giới giáo dục. Như thế không có nghĩa "bất vụ lợi trong giáo dục" đã không từng thành công tại VN, nhưng cũng là do lòng tham con người.

Nhưng The Saigontimes đã kiểm duyệt chỉ còn:
" Tại miền Nam Việt Nam trước 1975 có 16 đại học tư, đa số là do các tôn giáo thành lập và chưa bao giờ đặt ra vấn đề lợi nhuận.  Tôi đồng ý giáo dục không phải là môi trường kinh doanh, nhưng thật khó khi nói về "bất vụ lợi" trong một xã hội đầy vụ lợi.
Tuy nhiên, cũng xin nhắc lại là miền Nam Việt Nam trước đây đã có những trường đại học tư bất vụ lợi và cũng rất thành công."

Cho đến hôm nay cái phần phía sau vụ đại học Hùng Vương vẫn chưa được làm sáng tỏ. Mới nhắc đến một tí đã xóa rồi. Làm thế nào mà "Mở miệng" về xây dựng giáo dục VN !!!!


Đại học tư thục phi lợi nhuận: Vì sao họ làm được còn chúng ta thì chưa?
Nguyễn Vạn Phú
Thứ Năm,  27/3/2014, 10:21 (GMT+7)
http://www.thesaigontimes.vn/
 

 

 

 


TBKTSG) - LTS: Xây dựng và đưa vào hoạt động thành công một trường đại học tư thục phi lợi nhuận đúng nghĩa ở Việt Nam là một công việc khó khăn; còn mô hình đại học tư vì lợi nhuận cũng không tránh được những xung đột quyền lợi như các vụ tranh chấp vừa diễn ra đã cho thấy. Chúng tôi mời các chuyên gia nặng lòng với nền giáo dục đại học nước nhà ngồi lại qua một bàn tròn để tìm ra một mô hình thích hợp, ít nhất ở góc độ nguyên lý hoạt động. Tham gia bàn tròn lần này gồm TS. Huỳnh Thế Du (Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright) và TS. Giáp Văn Dương (mô hình đại học trực tuyến GiapSchool).
Môi trường giáo dục nào cho phép người ta “mua danh” thì nền giáo dục đó có khả năng phát triển. Ngược lại, sẽ là thảm họa nếu giáo dục là nơi để một số ít người kiếm lợi.
Ông Huỳnh Thế Du

Giáo dục có thể mang lại nhiều lợi ích cho nhà đầu tư, như danh tiếng, mong muốn cống hiến, ý nghĩa cuộc sống... nhưng không nên trực tiếp là tiền.
Ông Giáp Văn Dương
TBKTSG: Vì sao ở các nước mô hình trường đại học tư thục phi lợi nhuận thành công còn ở nước ta vẫn trầm trầy trầm trật? Rõ ràng vốn không phải là vấn đề lớn?
- Ông Huỳnh Thế Du: Có nhiều yếu tố, nhưng ở đây tôi xin nêu ra vấn đề huy động nguồn lực tài chính.
Trừ một vài trường hợp ngoại lệ, con người có lẽ ai cũng vì hai chữ lợi - danh. Ít ai có động cơ làm một việc gì đó mà thiếu vắng cả hai điều này. Một điều gì đó thành công cũng đều gắn với lợi hoặc danh hoặc cả hai.
Môi trường giáo dục nào cho phép người ta “mua danh” thì nền giáo dục đó có khả năng phát triển, nhất là giáo dục đại học. Ngược lại, sẽ là thảm họa nếu giáo dục là nơi để một số ít người kiếm lợi.
Các đại học ở Hoa Kỳ là một trường hợp thành công điển hình trong việc huy động nguồn lực tài chính trong xã hội nhờ việc “bán danh”. Hầu hết các trường đại học thành công và có uy tín nhất ở đây đều là những trường tư phi lợi nhuận. Không ai được chia lợi nhuận nhưng rất nhiều mạnh thường quân đã đóng góp những khoản tài chính khổng lồ. Đơn giản là họ được lưu danh ở đó.
- Ông Giáp Văn Dương: Tôi cho rằng có mấy yếu tố để đảm bảo một đại học tư thục thành công, là: Con người, vốn đầu tư, động cơ làm việc và văn hóa xã hội.
Con người ở đây là thầy và trò. Các trường tư thục ở ta thiếu trầm trọng về đội ngũ giảng viên. Mang danh một đại học mà đội ngũ, khoan nói đến chất lượng, có khi chỉ có vài người cơ hữu, còn phần lớn là giảng viên về hưu hoặc kiêm nhiệm thêm. Nếu nhìn vào danh sách 207 ngành bị Bộ Giáo dục và Đào tạo từng yêu cầu dừng tuyển sinh do không đáp ứng được tiêu chí có một tiến sĩ và ba thạc sĩ thì thấy các trường tư thục cũng chiếm một phần khá. Còn trò thì cũng rất yếu. Các trường phải vét tận đáy, mà vẫn không đủ sinh viên nhập học. Như vậy thì làm sao có thể thành công?
Về vốn đầu tư thì nói chung là nhỏ lẻ, không đến tầm. Nhìn vào chương trình đào tạo sẽ thấy hầu hết là những ngành dạy chay, không cần đầu tư máy móc thiết bị. Trường sở thì chủ yếu đi thuê, nay đây mai đó. Có trường tuyển sinh đào tạo cả chục năm rồi mà vẫn chưa có phòng ốc riêng.
Văn hóa xã hội ở ta cũng không mặn mà gì với giáo dục ngoài công lập. Tư nhân, nói chung vẫn bị phân biệt đối xử với nhà nước. Mà tâm lý người dân nói chung, sau mấy chục năm bao cấp, cũng thích bám vào nhà nước hơn. Việc chỉ chăm chăm chạy vào biên chế, bất chấp lương thấp, không phát huy được hết khả năng là một ví dụ.
Nhưng đáng ngại nhất là động cơ của việc mở trường đại học. Vẫn có những động cơ trong sáng, vô vị lợi. Nhưng phần lớn mở trường không phải để giảng dạy, mà để... chiếm đất. Được cấp đất rồi, chỉ cần một tờ trình chuyển đổi mục đích sử dụng là sẽ thành dự án khác ngay tắp lự. Tức mở trường chỉ là một cái cớ, để hợp lý hóa các dự án bất động sản đã được ủ sẵn. Vì thế, khi thị trường bất động sản chùng xuống thì cũng chẳng ai còn hứng thú gì với việc mở trường nữa.
Tất cả những điều này làm cho chất lượng đào tạo của các trường ngoài công lập thấp, tạo một cái vòng luẩn quẩn, làm cho thầy chán, trò chán, nhà tuyển dụng chán, nhà quản lý và xã hội không tin tưởng, nên các trường đại học tư thục rất khó thành công.
TBKTSG: Nhưng có một lưu ý thú vị là trong khi các trường đại học tư thục không thành công, thì các trường mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở, thậm chí cả trung học phổ thông lại khá thành công, theo nghĩa tự chủ được tài chính và được xã hội tín nhiệm, dù mức học phí rất cao. Bậc học càng thấp thì trường tư thục càng được đánh giá cao. Vậy đâu là nguyên nhân của sự khác biệt này?
- Ông Giáp Văn Dương: Rõ ràng giáo dục ở bậc phổ thông và đại học khác hẳn nhau về chất. Với bậc học thấp, chỉ cần cơ sở vật chất tốt và tác phong thân thiện là đã đáp ứng được yêu cầu của phụ huynh học sinh. Chuyên môn không đòi hỏi đặc biệt lắm, nhiều thầy cô đáp ứng được nên có thể tuyển được nhiều giảng viên giỏi. Nhưng ở bậc đại học thì không. Cơ sở vật chất chỉ là một phần của câu chuyện, mà chất lượng giảng viên, nội dung chương trình, uy tín của nhà trường với xã hội mới là cái quyết định. Những điều này đòi hỏi đầu tư tốn kém, cả thời gian và tiền bạc, và bị kiểm chứng nhãn tiền thông qua thị trường lao động, nên hầu hết các trường tư thục không đáp ứng được. Đó là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự thất bại của nhà trường.
TBKTSG: Có hay không khả năng huy động vốn theo dạng endowment (hiến tặng) ở Việt Nam? Động cơ nào cho các nhà đầu tư bỏ tiền cho một dự án đại học mà chắc chắn không bao giờ họ thu lại được vốn bỏ ra? Như thế trường thuộc sở hữu của ai?
- Ông Huỳnh Thế Du: Nhìn vào các đại học tư thục thành công như ở Mỹ sẽ thấy ít nhất hai yếu tố tạo ra sự thành công trong việc huy động vốn theo dạng endowment.
Thứ nhất, hầu hết các cơ sở vật chất của trường đều mang tên một hay một nhóm người nào đó mà đa phần là tên của các nhà tài trợ hay những cá nhân có đóng góp cho sự phát triển của trường. Đây là khuyến khích có thể nói là quan trọng hàng đầu để nhiều người quyên góp hoặc tự bỏ tiền ra xây trường.
John Harvard, người được vinh dự lấy tên đặt cho ngôi trường được xem là thành công nhất thế giới hiện nay, chỉ là một người quyên góp tài sản cho trường sau hai năm thành lập. Trường hợp của Stanford hay Vanderbilt thì quá rõ ràng. Hai tỉ phú này đã bỏ tiền ra xây và lấy tên mình đặt tên cho ngôi trường.
Thứ hai, với một xã hội công dân cởi mở, ai cũng có thể được công nhận hay tôn vinh nhờ việc cho đi của mình nên thói quen cho đi hay làm từ thiện đã ngấm vào máu của không ít người. Trong môi trường này, nhiều người nhận ra rằng thành công mà họ có được là nhờ sự giúp đỡ của rất nhiều cá nhân và tổ chức. Trong đó, những nơi dạy dỗ họ là có ý nghĩa nhất. Do vậy, nhận được nhiều thì cho đi cũng là điều phải phép.
Đóng góp của cựu học viên có một vai trò rất lớn ở nhiều trường. Ví dụ, có đến 60% cựu sinh viên của Princeton đóng góp về mặt tài chính cho trường; năm 2012, các cựu sinh viên đã đóng góp hơn 1 tỉ đô la cho Stanford, và phần đóng góp của cựu sinh viên chiếm một tỷ phần không nhỏ trong endowment gần 40 tỉ đô la của Harvard hiện nay.
- Ông Giáp Văn Dương: Đây là vấn đề văn hóa, hơn là vấn đề giáo dục. Endowment quen thuộc với văn hóa Âu Mỹ, nhưng khá xa lạ với văn hóa phương Đông, lại càng xa lạ với văn hóa Việt Nam. Người Việt Nam thích đầu tư hoặc dành dụm cho con cháu dòng họ hơn là cho cộng đồng. Trách nhiệm xã hội vẫn còn là một khái niệm rất mới, chưa đi vào thực tế. Chắc phải khá lâu nữa mới có sự chuyển trách nhiệm từ gia tộc sang cộng đồng.
Còn trường thuộc sở hữu của ai cũng là câu hỏi hay. Nếu động cơ là gây dựng danh tiếng cho cá nhân, thì tất nhiên trường sẽ được thiết kế để sở hữu thuộc về cá nhân đó. Còn nếu động cơ là phát triển cộng đồng, thì trường sẽ thuộc sở hữu của cộng đồng. Nhà đầu tư khi đó chỉ là người khởi tạo ban đầu, có khi một vài năm sau đã không còn dính dáng gì đến hoạt động của trường rồi.
TBKTSG: Giai đoạn đầu có thể nào tạm thời chấp nhận loại hình trường tư vì lợi nhuận rồi hy vọng sau đó dần dần chuyển chúng thành phi lợi nhuận?
- Ông Giáp Văn Dương: Tôi rất nghi ngờ khả năng này. Cá nhân tôi cho rằng, giáo dục nói chung không phải là nơi để kiếm lợi nhuận. Giáo dục có thể mang lại nhiều lợi ích cho nhà đầu tư, như danh tiếng, mong muốn cống hiến, ý nghĩa cuộc sống... nhưng không nên trực tiếp là tiền.
- Ông Huỳnh Thế Du: Tôi cũng rất nghi ngờ khả năng này. Cũng có một số trường vì mục tiêu lợi nhuận thành công như Đại học Phoenix ở Mỹ chẳng hạn. Tuy nhiên, khi trường đang ăn nên làm ra thì chẳng có lý do gì để cổ đông từ bỏ lợi ích tài chính của mình.
Vấn đề ở chỗ là khả năng trở thành nơi bán bằng của các đại học vì lợi nhuận rất cao. Ngay cả ở thiên đường của thị trường tự do như ở Mỹ cũng có rất nhiều ý kiến chỉ trích mô hình này. Không ít người ở Việt Nam đã “tốt nghiệp” từ những cỗ máy bán bằng như vậy.
TBKTSG: Chính sách nhà nước nên như thế nào để kích thích sự ra đời của loại hình trường đại học tư phi lợi nhuận?
- Ông Huỳnh Thế Du: Nếu bây giờ Việt Nam có cơ chế để các cá nhân khi cho đi tài sản của mình có thể được lưu danh cộng với việc tạo ra một môi trường học thuật thực sự tự do thì trong tương lai có một đại học “Lê Văn A” nào đó lừng danh thế giới là hoàn toàn có thể.
Giáo dục là nơi có thể tạo ra danh dễ và tốt nhất. Do vậy, nên để cho các mạnh thường quân có cơ hội lưu danh thay vì tạo cơ hội cho một số ít kiếm chác như hiện nay.
Một vấn đề rất lớn trong cơ chế hiện tại là coi trường học như công ty cổ phần với các quyết định được dựa trên tỷ lệ sở hữu. Trong một xã hội trọng bằng cấp và khó phân biệt được vàng thau thì khả năng trục lợi bằng việc “bán bằng” là rất có thể. 
- Ông Giáp Văn Dương: Việc đầu tiên Nhà nước có thể làm là không phân biệt đối xử. Các đại học công đều được đầu tư, nhưng các đại học tư thì hầu như không. Thứ hai là có chính sách ghi nhận và khuyến khích các cá nhân hiến tặng tài sản của mình cho giáo dục. Và thứ ba là để các trường tự chủ tối đa trong việc phát triển, nhưng giám sát chất lượng chặt chẽ, để chất lượng đào tạo của đại học tư không thua kém đại học công. Không cần nhiều như hiện giờ mà chỉ cần vài trường tư thục thật tốt là được rồi.
TBKTSG: Rốt cuộc các trường dù phi lợi nhuận vẫn phải đào tạo các môn do nhu cầu thị trường chứ khó lòng đi theo hướng đại học nghiên cứu hay đại học liberal arts (nhân văn). Làm sao giải quyết điều này? Mức học phí từ 30-50% chi phí đào tạo thì làm sao gia đình bình thường có thể kham nổi?
- Ông Giáp Văn Dương: Thị  trường lao động biến đổi rất nhanh. Chạy theo thị trường lao động không phải lúc nào cũng hay. Việc thừa thãi cử nhân kinh tế, tài chính, quản trị kinh doanh hiện giờ là một ví dụ. Viễn cảnh đào tạo những ngành nghề, dịch vụ còn chưa xuất hiện cũng là điều các đại học phải cân nhắc. Vì thế, tôi cho rằng, các đại học cần định tâm làm đúng chức năng của mình: nơi khám phá và truyền bá tri thức, hơn là chạy theo những nhu cầu cụ thể của thị trường.
- Ông Huỳnh Thế Du: Vai trò của hướng nghiệp được không ít người nhắc đến. Tuy nhiên trên thực tế, rất khó để sinh viên, nhất là học sinh cấp 3 biết mình muốn gì và nên học ngành gì cho dù các em được hướng dẫn hay tư vấn rất kỹ như ở một số nước phát triển. 
Trên thực tế, hầu hết học sinh thường lựa chọn theo tâm lý đám đông. Bản chất cuộc sống là những cuộc chạy đua lên đỉnh. Những ngành đang được thị trường ưa chuộng thì nhiều người rỉ tai nhau nộp hồ sơ và có nhiều ứng viên tốt. Ngược lại những ngành thu nhập thấp hay khó tìm việc làm thì ít ai muốn học, trừ một số ít thực sự đam mê.
Đánh vào hầu bao cá nhân là giải pháp trong trường hợp này. Những ngành nhiều người có thể trang trải chi phí thì để cho thị trường quyết định và Nhà nước chỉ trợ cấp phần tương ứng với ngoại tác tích cực mà chúng tạo ra. Đối với những ngành có ích cho xã hội nhưng không có nhiều người học thì cần khuyến khích.
Trường hợp ngành sư phạm là một ví dụ rất rõ ở nước ta. Đầu thập niên 1990, sư phạm được đối xử như những ngành khác trong lúc kinh tế đang lên, sư phạm thì khó kiếm việc và những ngành khác thì thu thập cao. Hậu quả là “chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm” để tạo ra một thế hệ giáo viên với nhiều người rất kém. Tuy nhiên, khi chính sách miễn giảm học phí được áp dụng thì sư phạm đã được ưa chuộng hơn rất nhiều.
Một mấu chốt quan trọng đối với giáo dục Việt Nam hiện nay là cần có những người làm chính sách có độ nhạy với thị trường và tầm nhìn dài hạn. Ở đâu thì giáo dục cũng cần vai trò và trợ cấp của Nhà nước cho dù là trường công hay trường tư. Do vậy, các nhà hoạch định chính sách cần biết các xu hướng của thị trường và nhu cầu của nền kinh tế để có những quyết định phân bổ nguồn lực phù hợp chứ không nên có tâm lý “con đẻ hay con nuôi”.

Chủ Nhật, 23 tháng 3, 2014

MỘT BỨC THƯ

Thú thật lời đề nghị của anh để viết về vai trò của các sinh viên Cách Mạng trong các trường đại học tư tại Sài Gòn trước 1975 làm tôi phân vân.
Trong mắt tôi, một người học đại học trước 1975, họ có nhiều ưu điểm nhưng cũng nhiều khuyết điểm.
Ưu điểm thì đã quá nhiều sách báo nói rồi vì từ 40 năm nay, những người này đã giữ nhiều chức vụ cao trong chính quyền và đã viết về họ một cách quá đầy đủ, đầy đủ hơn cả mức đầy đủ nữa.
Những người quen của tôi, những người bạn của tôi xuất thân từ những sinh viên này đều đã giữ những chức vụ cao. Tuy nhiên phải thú thật rằng những đặc tính ưu việt trong thời chiến lại biến thành những nhược điểm trong thời bình, theo nhận xét của tôi.
Tôi không thích nói về chiến tranh nữa. Thật sự, tôi không muốn khơi gợi lại cái cuộc chiến mà dân Việt chịu đựng 20 năm, nhất là ảnh hưởng của nó trong giáo dục. Tôi muốn nhìn giáo dục là chính nó, không chịu bất cứ một quyền lực chính trị hay tôn giáo nào. Tôi muốn trẻ con được tự do suy nghĩ theo kiểu của chúng nó đừng gò ép nó vào một quan điểm hay khuynh hướng nào của người lớn. Tôi muốn chúng nó sống hồn nhiên.
Tôi không thể chịu đựng được khi một NCS phát biểu ý kiến về việc đặt tên cho một cuộc chiến tranh ở Việt Nam phải căn cứ trên chủ nghĩa Marx. Có cái quái gì về mối quan hệ biện chứng qua lại của việc đặt tên một cuộc chiến tranh VN với chủ nghĩa Marx? Cho nên có lẽ khi tôi viết về TỰ TRỊ ĐẠI HỌC tôi sẽ viết về vấn đề này. Tự do học thuật trong môi trường giáo dục đại học.
Vài nét cho anh biết vai trò của những người này trong môi trường đại học theo nhận xét của tôi:
- Đó là những người lớn tuổi hơn cái tuổi 18 được nhận vào đại học. Không nghiêm nghị lắm nhưng họ có một nét mặt lúc nào cũng bí mật. Tôi nói nét mặt nhé, không phải là hành vi bí mật đâu. Nét mặt bí mật ngầm một chút kiêu hảnh là ta đang không phải chỉ cứu nước Việt Nam mà còn “cứu cả thế giới”. Họ vào trường đại học quan sát các sinh viên chung quanh, nhận ra những sinh viên nào chăm học, những sinh viên nào thích phản ứng giáo sư, sinh viên nào nghèo, xa nhà, những người nhà giàu đi học. Họ phân loại sinh viên để xem có thể tiếp xúc với những loại sinh viên nào. Có một số sinh viên rất hảnh diện được họ rỉ tai để mời đi hội họp, mời vào một sinh hoạt đoàn thể nào đó và mời đi biểu tình.
- Đó là những sinh viên “ít” ngồi trong lớp, hoặc chỉ ngồi trong lớp những tiết giảng của các giáo sư thân chính quyền. Họ không ghi chép gì (chỉ loại sinh viên chăm học, “cù lần” mới ghi chép). Họ lắng nghe và họ quan sát. Vai trò quan trọng nhất của họ là nghe giáo sư nào chống Cộng là ngày mai có một số báo đối lập với chính quyền viết bài về ông giáo sư đó. Ví dụ như Linh mục Bữu Dưỡng (người sáng lập ra viện đại học Minh Đức) giảng về môn học trong Tứ Thư là quyển sách Đại học thì lúc nào cũng có mặt những người này,…Dù rằng trên các giảng đường đại học, nền học thuật có vẽ … tự do, ít nhuốm màu chính trị, và không ai ca ngợi Mỹ … thái quá, chỉ cổ vũ hòa bình. Giáo sư Nguyễn văn Trung giảng về Triết học Marx, cả phòng chật cứng sinh viên. Chưa bao giờ vị giáo sư này chê triết học Marx nữa câu, chỉ dám nói về khái niệm vong thân trong triết học.
- Những sinh viên này làm cầu nối  những người xa lạ tứ hướng trong đại học biết nhau nhiều hơn vì họ tổ chức các buổi sinh hoạt văn nghệ, báo tường, tập san (in roneo),…truyền tay nhau đọc các tin tức trong trường, và không bị kiểm duyệt.
- Mọi người sẽ hỏi các sinh viên bình thường, các giáo sư có biết những sinh viên Cách mạng này không? Biết chứ, nhưng chuyện đó của công an, không ai bận tâm đi mách lẽo, ai làm gì mặc ai, sinh viên Cách mạng nằm vùng chống chinh quyền thì chính quyền tự bắt, một đôi khi sinh viên còn…bao che cho vì thấy… “tội nghiệp”, vì họ cũng là thanh niên như mình mà.

- Tuy nhiên, vì không “chịu” học hành, mà đến giảng đường với những mục đích khác, nên khi thi cuối học kỳ những sinh viên này thường bị trượt. Thời đó, trượt một năm đại học là theo luật tổng động viên, phải đi…lính. Thế là có những bài báo kêu rêu là: “Đại học Vạn Hạnh đánh trượt 80% sinh viên” “Sinh viên Vạn Hạnh xin viện trưởng ra tay cứu giúp”




Về mặt học thuật các giáo sư có quyền cho điểm thấp các bài không đạt yêu cầu, cần thiết thì xin phúc khảo, nhưng các “sinh viên” làm lớn chuyện cho rằng vì lý do ủng hộ chuyện bắt lính nên các giáo sư cho họ rớt, chấm bài gắt gao. Thật khổ tâm. Và báo chí lúc nào cũng bênh vực “sinh viên”
Không phải các giáo sư ai cũng theo Cách Mạng, thích Hòa Bình vì phần đông họ đều du học ở Mỹ hoặc Pháp. Nhưng vì tinh thần khách quan của học thuật giáo dục đại học cũng như lòng yêu nước, công với việc…không muốn “mích lòng sinh viên” nên họ không quảng bá cách sống Mỹ, chính trị Mỹ quá lộ liễu, mà đề cao văn hóa dân tộc và bảo vệ nền văn hóa truyền thống VN.
Và cuối cùng, đó là những sinh viên chợt thoáng chợt hiện trong giảng đường, và ngày mai thấy tên, hình của họ trong những tòa án Quân sự, bị bắt vào các trại giam, bị đày đi Côn Đảo… Họ không có một cuộc sống của thời thanh niên như các thanh niên khác.
Họ đang là nạn nhân của những căn bệnh của một thời thanh niên luôn âu lo, trốn tránh, tù đày. Trong hiện tại một số trong những người này đang khoắc khoải vì mục đích “cứu quốc!” và “cứu thế!” của họ trước kia. Do đó tôi ghét chiến tranh, tôi không muốn nhắc hoài về những cuộc chiến.

NHÂN ĐỌC SÁCH VỀ “NHÀ GIÁO, NHÀ SỬ HỌC ĐỖ VĂN NHUNG”

Đại học Quốc Gia TPHCM, trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn-Khoa Lịch Sử, nxb Tổng hợp TPHCM, 2012.
Vài hàng cảm nghĩ
Tôi đã học thầy Nhung vào những năm thầy chưa được phong hàm PGS, nhưng nghe các giảng viên có học vị học hàm trong khoa kính trọng thầy lắm lắm. Mà, kính trọng cũng là phải vì kiến thức của thầy về lịch sử, không chỉ là lịch sử thế giới đến lịch sử Việt Nam cũng rất phong phú, đầy tràn. Tôi dùng chữ đầy tràn ở đây có nghĩa là nếu bấm nút vào vấn đề gì thì…thầy cũng có thể tuôn tràn ra kiến thức, những kiến thức do kinh nghiệm, do tự sáng tạo chứ không phải do…sách vỡ. Điều này làm hấp dẫn chúng tôi, những sinh viên của thời mở cửa he hé, mở cửa he hé để dạy các lớp đại học chỉ ghi danh, không thi cử gì. Do đó sinh viên có những người trên 70, 60, 50, 40,… những thành phần ham học bị bít lối vào khóa chính quy vì quá tuổi, tham gia học. Do thành phần sinh viên…phức tạp như thế, muốn cho họ nể phục thì phải rất …cứng khi đứng trên bục giảng. Thầy Nhung là một trong những giảng viên như thế lúc bấy giờ.
Tôi nợ thầy Nhung nhiều thứ. Thứ nhất khi làm luận văn tốt nghiệp. Thú thật khi đó tôi ngán lịch sử Việt Nam vì nó…cứng ngắt, một chiều quá (bây giờ đở hơn rồi) nên phải chọn lịch sử thế giới … dễ chịu hơn. Với một ít sách và tài liệu trong tủ sách tại nhà, tôi chọn Kinh tế Campuchia thời Sihanouk. Trời, khi tôi chọn như thế, có nghĩa tôi phải khen ngợi vào thời gian Sihanouk trị vì Campuchia, nền kinh tế nước này cực thịnh, mà tôi có bằng cớ chứng minh cực thịnh thật. Lúc này ông Hoàng Campuchia chưa về nước còn đang ở Trung Quốc (cuộc chiến tranh Việt Nam-Trung quốc chưa xóa được trong lòng người Việt). Hunsen đang được ngợi ca. Tôi leo lên lưng cọp khi chọn đề tài này và đề nghị thầy Nhung hướng dẫn. Thế là viết. Viết mươi trang đến nhà đưa cho thầy. Những trang nháp được sửa đỏ loe đỏ loét… “Chị muốn chết hay sao mà viết như thế này”…Tôi tranh luận, nhưng cũng phải sửa cho luận văn nhẹ nhàng hơn…Và, khi ra hội đồng thầy bênh vực quan điểm của tôi đến nơi đến chốn, hẳn nhiên nhờ thầy cũng được thông qua.
Cái quái dị của tôi là thích chọn các nước trung lập. Lần thứ hai, khi học ở Viện Khoa học Xã hội phía Nam, tôi lại lò mò đến đề nghị thầy hướng dẫn tiểu luận Cao học về “Ảnh hưởng thuyết bất bạo động của Gandhi vào phong trào giải phóng dân tộc Ấn Độ”. Lần này cũng “Chị muốn chết hay sao mà viết như thế này”…cũng bị sửa đỏ loe đỏ loét ngay từ trang đầu,…May mà tôi chưa hỏi thầy câu tôi hỏi giáo sư Trần văn Giàu (thầy Giàu cũng hướng dẫn tôi để tài này do GS Mặc Đường giới thiệu): tại sao Việt Nam không theo thuyết bất bạo động của Gandhi để tránh đổ máu nhiều quá khi giành độc lập dân tộc? (thầy Giàu nói là lúc đó thầy được bác Hồ cử qua Ấn Độ gặp thánh Gandhi). Thầy Giàu cười. Tôi cũng cười. Sau đó tôi phải dừng lại và làm luận văn thạc sĩ về lịch sử Việt Nam cận hiện đại. Tôi đã viết về xong đề tài về Ấn Độ này nhưng cất trong tủ sách.
Như thế, tôi có được bằng cử nhân cũng nhờ cây cao bóng cả của thầy Nhung. Bởi lẽ nếu không có thầy, tôi sẽ bỏ luận văn hoặc sẽ viết về một đề tài mà tôi không thích. Hai thứ tôi đều không muốn.
Cái cây cao bóng cả ấy gặp tôi ở đại học Hùng Vương. Tôi lại bạo gan một lần nữa đề nghị thầy đổi mới phương pháp giảng dạy theo ý Giáo sư Ngô Gia Hy (lúc đó là hiệu trưởng trường, một người có nghiên cứu về phương pháp dạy đại học ở Âu Mỹ từ trước). Đúng là tôi điếc không sợ súng, dám đề nghị một vị đã dạy đại học 50 năm thay đổi phương pháp dạy là cho sinh viên đề tài và để sinh viên thuyết trình trong các buổi học. Thầy không phản ứng, chỉ nói là sẽ học cái gì qua những buổi thuyết trình đó, sinh viên cũng chỉ chép từ sách ra, không có gì mới…Những lần gặp sau đó thầy quên mất sự “vô phép” của tôi, còn ân cần khuyến khích tôi học thêm nữa.
Đấy là những kỷ niệm của tôi về thầy Đỗ văn Nhung. Tôi kính trọng thầy từ đầu không vì những học hàm thầy được phong sau này. Tôi chỉ nhớ khi tôi hỏi thầy sao thầy không viết nhiều sách để in, thầy bảo: nếu viết đúng sự thật thì không thể in được, thôi thì đừng viết là hơn…


Nguyễn Hồng Cúc
2013

  Ở NHÀ MỘT MÌNH ( Không giống phim ở nhà một mình của cậu bé 7 tuổi mà là bà già 70 tuổi ở nhà một mình để tránh virus Covid 19)   ...